Nhìn vào thành tích xuất khẩu (XK) thủy sản của Việt Nam trong những năm qua, giá trị XK thu về 8 – 9 tỷ USD vào năm 2020 không phải là điều khó khăn. Nhưng sẽ không bền vững nếu ngành thủy sản vẫn giữ cách phát triển theo lối cũ như phụ thuộc nguyên liệu, sản phẩm thô, thiếu vệ sinh an toàn thực phẩm… trong bối cảnh hàng rào thương mại được các nước dựng lên ngày một nhiều.
Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc vừa ký Quyết định 1434/TTg về phê duyệt Chương trình mục tiêu phát triển kinh tế thủy sản bền vững giai đoạn 2016 – 2020. Theo đó, nhiều mục tiêu tăng trưởng của ngành thủy sản đã được đặt ra. Đáng chú ý, mục tiêu phấn đấu đến năm 2020, tốc độ tăng giá trị sản xuất thủy sản bình quân hằng năm đạt 6%, tổng sản lượng thủy sản đạt 6,5 – 7 triệu tấn, giá trị XK thủy sản đạt 8 – 9 tỷ USD.
Lo bị “thẻ vàng”
Theo đánh giá của chuyên gia lẫn doanh nghiệp (DN), mục tiêu này hoàn toàn không nằm quá xa so với tầm với của ngành thủy sản. Thực tế, suốt từ đầu năm đến nay, XK thủy sản luôn giữ đà tăng trưởng đi lên so với các tháng cùng kỳ năm trước.
Bộ NN&PTNT cho biết, giá trị XK ngành hàng thủy sản ước đạt 5,1 tỷ USD, tăng 18,1%, dự báo sẽ đạt khoảng 8 tỷ USD, tăng hơn 1 tỷ USD so với năm 2016.
Nhìn lại thời gian qua, ngành XK thủy sản không ngừng bứt phá. Theo số liệu của Hiệp hội Chế biến và XK Thủy sản Việt Nam (VASEP), XK thủy sản tăng mạnh cả về sản lượng và giá trị qua từng năm (ngoại trừ sự sụt giảm năm 2009 do tác động chung của khủng hoảng và suy thoái kinh tế toàn cầu), đưa kim ngạch XK thủy sản của Việt Nam năm 2015 đạt 6.700 triệu USD, gấp hơn 2,4 lần kim ngạch XK năm 2005 (2.739 triệu USD) với tốc độ tăng trưởng bình quân giai đoạn 2005 – 2015 là 10,45%/năm.
Với sản phẩm XK chủ lực là tôm (tôm chân trắng và tôm sú), tính đến hết năm 2015, thủy sản Việt Nam đã có mặt tại 164 quốc gia và vùng lãnh thổ, tăng 25 thị trường so với năm 2010, với những thị trường chính là Hoa Kỳ, EU, Nhật Bản, Hàn Quốc, Trung Quốc và các nước ASEAN.
Nhưng thẳng thắn mà nói, XK thủy sản của Việt Nam những năm qua chưa thực sự phát triển bền vững. Giải thích nhận định này, bà Nguyễn Thị Quỳnh Hoa, Viện Nghiên cứu Thương mại (Bộ Công Thương), đánh giá: “XK phần lớn là sản phẩm thô, sơ chế, hàm lượng chế biến thấp nên giá trị gia tăng XK thấp, năng lực cạnh tranh của các mặt hàng thủy sản XK Việt Nam còn thấp và chậm được cải thiện”.
Các sản phẩm chế biến từ tôm, cá tra nhìn chung còn đơn điệu, chủ yếu là các sản phẩm đông lạnh dạng phi lê, nguyên con hoặc cắt khúc (chiếm trên 95%), loại sản phẩm chế biến sâu, phối chế, làm sẵn, ăn liền tuy bước đầu có sản xuất nhưng còn rất ít, chỉ khoảng 5%.
Về môi trường, bà Hoa cho biết, mở rộng XK thủy sản đang có nguy cơ làm cạn kiệt nguồn lợi thủy sản, gây suy giảm đa dạng sinh học và ô nhiễm môi trường.
Tăng trưởng XK của Việt Nam hiện nay chủ yếu dựa vào việc khuyến khích khai thác các nguồn lợi tự nhiên và sử dụng ngày càng nhiều những yếu tố đầu vào, làm gia tăng áp lực gây ô nhiễm môi trường.
Liên quan tới lo ngại này, mới đây, sau đợt đánh giá tại Việt Nam trong các ngày 15 – 19/5, đoàn công tác của Tổng vụ các vấn đề Biển và Thủy sản của Ủy ban châu Âu đã có năm nhóm khuyến cáo và yêu cầu Việt Nam khắc phục, liên quan đến chống khai thác hải sản đánh bắt từ biển như mực, bạch tuộc, cá ngừ, tôm sắt, cá biển… bất hợp pháp trước ngày 30/9.
Theo ông Nguyễn Hoài Nam, Phó Tổng Thư ký VASEP, nếu Việt Nam không khắc phục tốt và đầy đủ, có khả năng EU sẽ trừng phạt bằng cách cảnh bảo thẻ vàng. Vì vậy, Việt Nam đang đề nghị EU lùi thời hạn xem xét vấn đề thẻ vàng để có thời gian khắc phục.
“Nếu bị thẻ vàng, 100% container hải sản XK sang EU sẽ bị giữ lại 3 – 4 tuần để kiểm ra nguồn gốc khai thác. Nếu lô hàng đạt, DN phải tốn phí 700 euro/container, còn không đạt sẽ bị trả hàng, tổn thất chi phí lên đến 10.000 euro/container. Sau thời gian bị thẻ vàng, nước bị cảnh báo sẽ có sáu tháng để khắc phục thiếu sót, nếu không được đánh giá cải thiện, EU sẽ chuyển sang cảnh báo thẻ đỏ, đồng nghĩa với việc cấm XK các loại hải sản khai thác sang EU”, ông Nam cho biết.
Kim ngạch xuất khẩu thủy sản tăng trưởng cao nhưng chưa bền vững
Phụ thuộc nguyên liệu
Bên cạnh đó, các DN thủy sản hiện vẫn chưa làm tốt công tác tổ chức sản xuất, chưa xây dựng chuỗi liên kết giữa sản xuất nguyên liệu với chế biến XK, khiến thị trường nguyên liệu thủy sản trong nước có nguy cơ bị thâu tóm do những mánh khóe kinh doanh của thương lái Trung Quốc, dẫn tới rối loạn thị trường nguyên liệu và thiếu hụt nguồn nguyên liệu tại chỗ cho chế biến XK.
Theo Bộ NN&PTNT, 8 tháng đầu năm nay, giá trị nhập khẩu (NK) thủy sản đạt hơn 900 triệu USD, tăng trên 31% so với cùng kỳ năm 2016. Thị trường NK thủy sản lớn nhất trong 7 tháng đầu năm là Ấn Độ (26,4% thị phần), Trung Quốc (8,8% thị phần).
Ông Nguyễn Ngọc Oai, Phó Tổng Cục trưởng Tổng cục Thủy sản (Bộ NN&PTNT), cho rằng: “Việt Nam hiện đang XK thủy sản tới hơn 100 quốc gia. Nguồn nguyên liệu trong nước cơ bản đáp ứng nhu cầu chế biến hàng XK. Tuy nhiên, khi dư thừa công suất, việc NK thêm nguyên liệu chế biến XK, góp phần tăng thêm giá trị gia tăng là điều đáng mừng, không có gì phải lo ngại”.
Dưới góc độ DN, ông Trần Văn Phẩm, Tổng Giám đốc công ty Cổ phần Thủy sản Sóc Trăng (STAPIMEX) cho rằng nếu Việt Nam có chính sách nhập nguyên liệu tốt cũng như có chính sách nuôi trồng tổng thể đối với con tôm và cá tra thì mục tiêu đến năm 2020 XK đạt 9 tỷ USD không phải là điều quá khó khăn.
Tuy nhiên, XK thủy sản hiện gặp khó khăn khi các nước không ngừng đưa ra các hàng rào thương mại. Các DN XK thủy sản có nguy cơ sụt giảm về giá trị XK, giảm lợi nhuận do không đáp ứng các quy định tiêu chuẩn về chất lượng ngày càng cao của những thị trường NK khó tính như Hoa Kỳ, EU, Nhật Bản, dẫn đến việc bị trả hàng, hoặc giảm giá của mặt hàng thủy sản.
Cụ thể như Hoa Kỳ, những rào cản điển hình trên thị trường này là Luật Hiện đại hóa An toàn Thực phẩm (FSMA) và Đạo luật Nông trại (Farm Bill).
Ngoài ra, hoạt động điều tra chống bán phá giá đang có nguy cơ lặp lại, một rào cản đã khiến con tôm, cá tra của Việt Nam nhiều năm qua không năm nào không phải chịu thuế chống bán phá giá và trợ cấp trên thị trường này.
Với thị trường Nhật Bản, ngoài quy định phải đạt được các chứng nhận về truy xuất nguồn gốc và nhãn sinh thái MSC, Nhật Bản cũng tăng cường kiểm tra dư lượng kháng sinh đối với mặt hàng tôm, trong đó quy định kiểm tra ngặt nghèo chỉ tiêu Oxytetraxylin với mức giới hạn phát hiện (MRL) là 0,2 ppm.
Không chỉ những thị trường lớn mà các thị trường lân cận trong khu vực cũng đang tạo áp lực về thuế chống bán phá giá với các mặt hàng thủy sản NK từ Việt Nam, gây bất lợi và thiệt hại hàng trăm triệu USD mỗi năm cho Việt Nam.
Hơn nữa, số tiền 11.000 – 15.000 USD mà mỗi DN phải bỏ ra chi trả cho luật sư đại diện để cung cấp thông tin và tranh luận với DOC trong suốt các đợt xem xét hành chính cũng không hề không nhỏ.
Lê Thúy
Ông Trương Đình Hòe - Tổng Thư ký VASEP
Vấn đề lớn nhất của ngành thủy sản hiện nay là đảm bảo an toàn vệ sinh thực phẩm. Không thể nói tới từng khâu hay từng công đoạn mà phải là cả chuỗi sản xuất, đặc biệt trong bối cảnh ngành thủy sản hiện có đến 70 – 80% là nuôi trồng. Làm sao phải đảm bảo chất lượng và giảm giá thành để sản phẩm cạnh tranh trên thị trường thế giới.
Bà Nguyễn Thị Quỳnh Hoa - Viện Nghiên cứu Thương mại
Năng lực tổ chức sản xuất ngành hàng thủy sản theo chuỗi giá trị từ sản xuất nguyên liệu đến chế biến và tiêu thụ, XK còn hạn chế, thiếu sự liên kết giữa các khâu trong chuỗi. Do đó, giá trị gia tăng XK thủy sản của Việt Nam còn thấp và chậm được cải thiện
Ông Trần Văn Lĩnh - Chủ tịch HĐQT công ty Thủy sản Thuận Phước
Thị trường nào cũng có rào cản, nhưng riêng Hoa Kỳ, gần 13 năm nay luôn áp dụng thuế chống bán giá với DN XK Việt Nam. Đây là rào cản thực sự với Việt Nam nhưng không chỉ có vậy, biện pháp kinh tế kỹ thuật của họ tuy đã có song thỉnh thoảng họ vẫn áp dụng kiểm tra tăng cường.
Việc tìm được các nhà đầu tư chiến lược luôn gặp thách thức, khó khăn, thậm chí, trong một số trường hợp, còn làm trì hoãn cả quá trình cổ phần hóa (CPH). Tại sao nhà đầu tư chiến lược chưa quan tâm đầu tư vào các doanh nghiệp nhà nước (DNNN) CPH?
Muốn vào thị trường Nhật Bản, nông sản Việt không chỉ phải đáp ứng các yêu cầu khắt khe của thị trường này về vệ sinh an toàn thực phẩm, tiêu chuẩn kỹ thuật, mà còn cần đáp ứng yêu cầu rất cao về chất lượng, bao bì, mẫu mã. Cửa ngõ vào thị trường này chưa bao giờ dễ dàng dù giá trị nông sản xuất khẩu cao hơn 2-3 lần so với tiêu thụ trong nước.
Việt Nam không thiếu các khu kinh tế (KKT) lớn, nhất là các KKT ven biển nở rộ gần đây, song hiệu quả hoạt động của các KKT này chưa như kỳ vọng, thậm chí đem đến những kết quả trái chiều. Chưa kể, hầu hết KKT ở Việt Nam rất giống nhau nên đây là những nơi tạo ra cuộc đua “xuống đáy” khốc liệt nhất.
Kinh tế số sẽ xác lập luật chơi mới trên thị trường, nếu doanh nghiệp (DN) Việt chậm thay đổi, thiếu thích nghi sẽ “chết” trước cuộc đổ bộ của các DN ngoại. Bởi lẽ, DN “sống sót” không phải là DN mạnh nhất, “khỏe” nhất, mà là DN có khả năng thích ứng với sự thay đổi của môi trường, luôn nghiên cứu đổi mới và sáng tạo.
Mặc dù đạt sản lượng 4,2 triệu tấn mỗi năm song xuất khẩu (XK) thịt lợn của Việt Nam chỉ đạt 20.000 tấn lợn sữa, phần lớn được XK sang Trung Quốc theo đường tiểu ngạch kiểu “lùa qua đèo, qua suối”. Để ngành này phát triển bền vững, có hiệu quả, cấp thiết phải tái cơ cấu, sản xuất theo mô hình chuỗi và xây dựng vùng an toàn dịch bệnh.
Du khách nước ngoài “mạnh tay” mua sắm ở nhiều thành phố trên thế giới nhưng dường như rất “tiết kiệm” khi du lịch ở Việt Nam. Phải chăng Việt Nam là điểm du lịch chi phí rẻ hay sản phẩm, dịch vụ du lịch của chúng ta chưa đủ sức hấp dẫn để du khách móc hầu bao cho chi tiêu.
Những ngày này, làng quất Tứ Liên bước vào quãng thời gian bận rộn nhất trong năm. Trên khắp các khu vườn, người trồng quất tất bật uốn cành, chỉnh thế, giữ dáng cho từng cây, chạy đua với thời gian để kịp đưa ra thị trường vào dịp Tết.
Dưới những ao nuôi được kè bờ chắc chắn ở thôn Văn Hưng, xã Cát Thịnh, tỉnh Lào Cai, những con ba ba gai thương phẩm đang được HTX Chăn nuôi ba ba gai Cát Thịnh chăm sóc cẩn trọng. Mỗi con có giá từ 3 đến 5 triệu đồng, chưa kể hàng vạn con giống...