Bộ Tài chính đề xuất gỡ loạt “nút thắt” cho hợp tác xã
Chọn cỡ chữ
Bộ Tài chính đề xuất gỡ loạt “nút thắt” cho hợp tác xã
Từ hỗ trợ đầu tư, chuyển đổi số đến giải thể HTX ngừng hoạt động, nhiều quy định được cho là rườm rà, khó triển khai đang được đề xuất sửa đổi theo hướng linh hoạt hơn. Dự thảo sửa đổi Nghị định 113 có gì mới và còn gì cần bàn?
Bộ Tài chính vừa hoàn thiện dự thảo Nghị định sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 113/2024/NĐ-CP quy định chi tiết Luật Hợp tác xã 2023. Sau chưa đầy hai năm triển khai, nhiều điểm nghẽn về tiêu chí, thủ tục và phân cấp thẩm quyền đã bộc lộ rõ, buộc cơ quan soạn thảo phải điều chỉnh trước thời hạn. Dự thảo lần này mang lại một số thay đổi thực chất, nhưng cũng còn không ít vấn đề cần được góp ý thêm.
Một trong những thay đổi được cộng đồng HTX quan tâm nhất là việc nới điều kiện tiếp cận chính sách hỗ trợ nhà nước.
Nới cửa để tiếp cận chính sách hỗ trợ
Điểm được quan tâm nhất tại dự thảo là sửa đổi tiêu chí thụ hưởng chính sách hỗ trợ nhà nước (Điều 6). Theo Nghị định 113/2024, hợp tác xã muốn được hỗ trợ phải chứng minh số lượng thành viên tăng trong 02 năm liên tiếp liền kề, một điều kiện mà nhiều hợp tác xã quy mô nhỏ hoặc mới thành lập khó đáp ứng do quy mô ổn định hoặc biến động theo mùa vụ.
Dự thảo hạ ngưỡng xuống chỉ cần tăng 01 trong 02 năm liền kề. Thay đổi tuy nhỏ về con số nhưng tác động thực tế lớn, đặc biệt với các hợp tác xã nông nghiệp ở vùng sâu, vùng xa, nơi số lượng thành viên phụ thuộc nhiều vào chu kỳ sản xuất và điều kiện kinh tế địa phương.
Song song đó, điều kiện về đào tạo cũng được đơn giản hóa. Thay vì phải có chứng nhận khóa học kèm danh sách đóng dấu chi tiết, dự thảo chỉ yêu cầu hợp tác xã có giấy tờ xác nhận việc thành viên tham gia học tập. Mức yêu cầu tỷ lệ thành viên được đào tạo vẫn giữ nguyên ở 5%.
Ngoài ra, dự thảo làm rõ hơn điều kiện buộc phải kiểm toán báo cáo tài chính. Ngưỡng 3 tỷ đồng áp dụng cho từng dự án riêng lẻ hoặc tổng giá trị các dự án đăng ký trong một năm tài chính, quy định này chặt chẽ hơn so với cách hiểu cũ chỉ tính từng khoản đơn lẻ.
Lần đầu có mức hỗ trợ cụ thể cho tư vấn và chuyển đổi số
Một điểm yếu lâu nay của Nghị định 113 là các nội dung hỗ trợ được ghi rất chung chung, không có mức tiền xác định, khiến địa phương không có cơ sở lập dự toán. Dự thảo lần này khắc phục điều này ở hai lĩnh vực quan trọng.
Về hỗ trợ tư vấn quản trị (Điều 9), dự thảo quy định hợp tác xã được hỗ trợ tối đa 100% chi phí sử dụng dịch vụ tư vấn về nhân sự, tài chính, sản xuất, bán hàng, quản trị nội bộ, nhưng không quá 50 triệu đồng/năm. Đây là lần đầu tiên mức trần tiền ngân sách được ghi rõ trong văn bản, tạo căn cứ thực thi cho cả hợp tác xã lẫn cơ quan quản lý.
Về hỗ trợ ứng dụng khoa học công nghệ và chuyển đổi số (Điều 11), dự thảo bổ sung nhiều nội dung mới đáng chú ý: tư vấn giải pháp chuyển đổi số miễn phí; hỗ trợ tối đa 100% chi phí thuê, mua giải pháp chuyển đổi số, không quá 100 triệu đồng/năm; tư vấn miễn phí về sở hữu trí tuệ và chuyển giao công nghệ. Đặc biệt, lần đầu tiên xuất hiện chính sách hỗ trợ lãi suất vay vốn thương mại cho dự án đầu tư thuộc danh mục phân loại xanh. Đây là một tín hiệu định hướng hợp tác xã tiếp cận kinh tế xanh và kinh tế tuần hoàn. Việc phân bổ hỗ trợ lãi suất này do Hội đồng nhân dân cấp tỉnh quyết định, phù hợp với đặc thù từng địa phương.
Với hỗ trợ kiểm toán (Điều 15), mức được quy định rõ là tối đa 100% chi phí kiểm toán, không quá 50 triệu đồng/năm, áp dụng cho hợp tác xã siêu nhỏ và nhỏ được Nhà nước hỗ trợ từ 3 tỷ đồng trở lên.
Thay đổi mang tính hệ thống nhất của dự thảo là điều chỉnh toàn bộ quy trình hỗ trợ (Điều 17) theo mô hình chính quyền địa phương hai cấp (tỉnh và xã), bỏ vai trò trung gian của cấp huyện.
Theo quy định hiện hành, hợp tác xã nộp hồ sơ lên xã, xã tổng hợp chuyển lên huyện, huyện tổng hợp báo cáo tỉnh, quy trình ba tầng này tốn thời gian và phát sinh nhiều đầu mối. Dự thảo rút gọn: hợp tác xã nộp hồ sơ tại UBND cấp xã; cấp xã tổng hợp, báo cáo thẳng lên UBND cấp tỉnh trước ngày 31/5 hàng năm. Thời hạn UBND cấp xã thông báo tiếp nhận hồ sơ cũng được rút từ 10 ngày xuống còn 7 ngày làm việc.
Quan trọng hơn, dự thảo bổ sung một quy trình rút gọn hoàn toàn mới (khoản 6 Điều 17) áp dụng khi hỗ trợ dịch vụ tư vấn có giá trị không quá 20 triệu đồng hoặc bồi dưỡng trong nước dưới 5 ngày. Hợp tác xã nộp hồ sơ trực tiếp cho đơn vị cung cấp dịch vụ, đơn vị này chịu trách nhiệm rà soát tính hợp lệ. Đây là bước phân cấp đáng kể, giúp xử lý nhanh các nhu cầu nhỏ, đột xuất mà không cần qua bộ máy hành chính địa phương.
Tháo vướng cho hàng nghìn hợp tác xã "chết nhưng chưa được chôn"
Điểm bổ sung đáng chú ý nhất về mặt thực tiễn là hỗ trợ kinh phí giải thể hợp tác xã. Đây là quy định hoàn toàn mới so với Nghị định 113 hiện hành (khoản 13 Điều 21 dự thảo).
Thực tiễn tại nhiều địa phương cho thấy hàng nghìn hợp tác xã ngừng hoạt động nhiều năm nhưng chưa thể hoàn tất thủ tục giải thể vì không còn nguồn tài chính để tổ chức đại hội thành viên, rà soát hồ sơ, thanh lý tài sản, kiểm toán và hoàn tất thủ tục pháp lý. Nghị định 113 không có cơ chế cấp kinh phí giải thể, khiến các địa phương lúng túng.
Dự thảo quy định kinh phí giải thể lấy từ nguồn tài chính còn lại của hợp tác xã; trường hợp không đủ thì ngân sách địa phương cùng cấp với cơ quan đăng ký hỗ trợ. Quy định này kế thừa tinh thần Nghị định 193/2013, được nhiều tỉnh như An Giang, Gia Lai, Lâm Đồng, Hà Nội, Ninh Bình kiến nghị khôi phục.
Dự thảo cũng sửa toàn bộ quy trình xử lý tài sản khi giải thể, chuyển thẩm quyền tiếp nhận quỹ chung không chia và tài sản chung không chia từ UBND cấp huyện sang UBND cấp xã, nhất quán với mô hình chính quyền hai cấp.
Bãi bỏ tổ hợp tác khỏi phạm vi điều chỉnh
Một thay đổi về kỹ thuật lập pháp nhưng có ý nghĩa thực tiễn. Dự thảo bãi bỏ toàn bộ cụm từ "tổ hợp tác" trong phạm vi điều chỉnh của Nghị định 113. Lý do Bộ Tài chính đang đồng thời soạn thảo một Nghị định riêng thay thế Nghị định 77/2019 về tổ hợp tác, nên cần tập trung toàn bộ quy định về đối tượng này vào một văn bản để tránh chồng chéo.
Những điểm còn cần góp ý
Dự thảo giải quyết được nhiều vướng mắc tích lũy từ thực tiễn, nhưng vẫn còn những khoảng trống và câu hỏi chưa có lời đáp rõ ràng.
Về mức trần hỗ trợ tư vấn, 50 triệu đồng/năm cho toàn bộ dịch vụ tư vấn là con số có cơ sở không? Với các hợp tác xã quy mô trung bình hoạt động đa ngành, chi phí tư vấn chuyên sâu về tài chính, thị trường hay công nghệ có thể vượt xa mức này. Cần có số liệu khảo sát chi phí thực tế để xác định mức trần phù hợp, thay vì đưa ra con số không có căn cứ định lượng rõ ràng.
Về điều kiện kiểm toán mở rộng, quy định mới yêu cầu kiểm toán khi tổng giá trị các dự án đăng ký trong một năm tài chính từ 3 tỷ trở lên, không phải từng dự án đơn lẻ. Với hợp tác xã đồng thời đăng ký nhiều khoản hỗ trợ nhỏ, điều kiện này có thể trở thành rào cản không lường trước. Cần làm rõ cách tính "tổng giá trị" và liệu các khoản hỗ trợ bằng hiện vật (thiết bị, đào tạo) có được tính vào không.
Về năng lực cấp xã, dự thảo giao thêm nhiều trách nhiệm cho UBND cấp xã, tiếp nhận hồ sơ, tổng hợp nhu cầu, báo cáo tỉnh, trong một số trường hợp trực tiếp hỗ trợ, tiếp nhận tài sản khi hợp tác xã giải thể, thành lập Hội đồng thanh lý. Nhưng phần lớn các xã hiện nay, đặc biệt ở nông thôn và vùng khó khăn, rất hạn chế về nhân lực có chuyên môn kinh tế và pháp lý. Dự thảo chưa có cơ chế nào đi kèm để đảm bảo năng lực thực thi cho cấp xã, đây là rủi ro thực thi lớn nhất.
Về quy trình rút gọn dưới 20 triệu đồng, dự thảo bỏ vai trò của UBND cấp xã trong quy trình này, giao toàn bộ cho đơn vị cung cấp dịch vụ rà soát hồ sơ là hướng đơn giản hóa tích cực. Nhưng đặt ra câu hỏi: ai kiểm tra xem hợp tác xã đó có đủ tiêu chí thụ hưởng quy định tại Điều 6 hay không? Trách nhiệm "rà soát tính hợp lệ" của đơn vị cung cấp dịch vụ liệu có khả thi khi đơn vị đó vừa là người cung cấp dịch vụ, vừa là người xác nhận tư cách thụ hưởng, xung đột lợi ích tiềm ẩn là rõ ràng.
Về hỗ trợ kinh phí giải thể, dự thảo quy định ngân sách địa phương hỗ trợ khi hợp tác xã không đủ kinh phí, nhưng không quy định mức trần, điều kiện, hay thủ tục cụ thể để tiếp cận khoản hỗ trợ này. Với nhiều tỉnh, thành phố có số lượng lớn hợp tác xã ngừng hoạt động chờ giải thể, ngân sách địa phương có đủ để đáp ứng không? Cần có hướng dẫn cụ thể về định mức, ưu tiên xử lý và nguồn bù đắp từ ngân sách trung ương nếu địa phương không cân đối được.
Về Thông tư hướng dẫn cơ chế tài chính, nhiều địa phương phản ánh ngay từ khi Nghị định 113 có hiệu lực là thiếu Thông tư hướng dẫn sử dụng ngân sách chi thường xuyên để thực hiện các chính sách hỗ trợ. Dự thảo lần này bổ sung nhiệm vụ cho Bộ Tài chính phải ban hành Thông tư này, nhưng không ghi rõ thời hạn. Nếu Nghị định có hiệu lực mà Thông tư chưa ra, các địa phương lại tiếp tục rơi vào vòng lặp "có chính sách nhưng không có tiền thực hiện" như hiện nay.
Dự thảo Nghị định đang được đăng tải công khai để lấy ý kiến. Đây là cơ hội để các hợp tác xã, liên minh hợp tác xã địa phương, các bộ ngành liên quan và chuyên gia chính sách đóng góp ý kiến nhằm hoàn thiện một văn bản pháp lý quan trọng, ảnh hưởng trực tiếp đến hàng trăm nghìn hợp tác xã và người lao động trong khu vực kinh tế tập thể trên cả nước.
Mộc Châu (Sơn La), vùng đất có thế mạnh về nông nghiệp từng phụ thuộc vào bán quả tươi theo mùa vụ, đang chuyển mình mạnh mẽ bằng công nghệ, thương mại điện tử, tư duy kinh tế số và sở hữu trí tuệ.
Khu vực kinh tế tập thể đang đứng trước yêu cầu đổi mới phương thức đánh giá hiệu quả hoạt động. Việc số hóa và lượng hóa các giá trị kinh tế, xã hội sẽ giúp phản ánh đúng đóng góp thực chất của HTX thay vì chỉ dựa vào doanh thu, lợi nhuận.
Dù xuất khẩu thủy sản vượt 11 tỷ USD, nhiều HTX vẫn khó vay vốn vì thiếu tài sản thế chấp và quản trị tài chính còn thủ công. Chủ tịch Liên minh HTX Việt Nam đề xuất coi dữ liệu số là “tài sản thế chấp mới” để mở khóa dòng tín dụng cho HTX thủy sản.
Với hơn 2 tỷ người tiêu dùng và quy mô hàng nghìn tỷ USD, thị trường Halal đang trở thành “cánh cửa vàng” cho hàng Việt mở rộng xuất khẩu sang Trung Đông, châu Phi và ASEAN Hồi giáo. Tuy nhiên, sân chơi này không chỉ đòi hỏi chất lượng sản phẩm mà còn yêu cầu doanh nghiệp xây dựng niềm tin bằng tiêu chuẩn, truy xuất nguồn gốc và quản trị minh bạch.
Sáng nay (15/5), Liên minh Hợp tác xã tỉnh Nghệ An tổ chức Hội nghị xúc tiến thương mại, phát triển thị trường gắn với xuất khẩu hàng hóa khu vực kinh tế tập thể (KTTT), hợp tác xã (HTX) năm 2026.
Thị trường tín chỉ carbon đang mở ra dư địa tăng trưởng mới cho nông nghiệp Việt Nam khi hàng trăm dự án đã được đăng ký và hàng chục triệu tín chỉ được cấp. Trong cuộc đua xanh này, HTX được xem là “mắt xích” trung tâm giúp nông dân liên kết sản xuất, chuẩn hóa quy trình và tạo ra nguồn thu mới từ giảm phát thải.
Từ vùng chuyên canh thanh long của tỉnh Đồng Tháp, HTX Nông nghiệp sạch Hưng Thịnh Phát đang từng bước nâng tầm nông sản Việt bằng mô hình nông nghiệp sạch, liên kết chuỗi và xuất khẩu bài bản. Giải Mai An Tiêm 2026 là dấu ấn cho hành trình đưa trái...