Mặc dù đạt sản lượng 4,2 triệu tấn mỗi năm song xuất khẩu (XK) thịt lợn của Việt Nam chỉ đạt 20.000 tấn lợn sữa, phần lớn được XK sang Trung Quốc theo đường tiểu ngạch kiểu “lùa qua đèo, qua suối”. Để ngành này phát triển bền vững, có hiệu quả, cấp thiết phải tái cơ cấu, sản xuất theo mô hình chuỗi và xây dựng vùng an toàn dịch bệnh.
Bộ trưởng Bộ NN&PTNT Nguyễn Xuân Cường đánh giá thịt lợn là một ngành hàng rất quan trọng, tăng trưởng rất nhanh nhưng lại đầy rủi ro, khiến nhiều hộ nông dân điêu đứng.
Bộ trưởng nói: “Trước kia, con lợn là tài sản, là biểu tượng kinh tế thời bao cấp, với sự sản xuất tự phát, thủ công, Việt Nam đã trở thành quốc gia có sức sản xuất lợn cực lớn với đàn lợn lên tới 4 triệu con, trong đó 55% được sản xuất ở quy mô tập trung. Song một ngành hàng quan trọng như vậy tại sao lại rủi ro, tại sao phải giải cứu”.
“Lùa qua đèo, qua suối”
Theo thống kê từ Bộ NN&PTNT, mỗi năm, ngành nông nghiệp Việt Nam XK đạt kim ngạch trên 30 tỷ USD với 10 ngành hàng chủ lực, đạt giá trị XK trên dưới 1 tỷ USD.
Theo báo cáo từ Hãng Nghiên cứu Toàn cầu (IBC), trong năm 2016, Việt Nam XK tiểu ngạch sang Trung Quốc gần 12 triệu con (33.000 con/ngày). Dự kiến năm 2017, Việt Nam xuất tiểu ngạch sang Trung Quốc khoảng 2,4 triệu con (giảm 80% so với năm 2016).
Nếu tình hình không khả quan, con số XK trên sẽ giảm sút, chỉ đạt 1,17 triệu con. Trong khi đó, XK chính ngạch lại hạn chế. XK lợn thịt xẻ chính ngạch, Việt Nam mới XK sang thị trường Hồng Kông và Malaysia khoảng 15.000 – 20.000 tấn (tương đương 200.000 con), trong giai đoạn 2013 – 2016.
Các con số trên cho thấy tình hình XK thịt lợn của Việt Nam hiện tại hoàn toàn không tương xứng với tiềm năng sản xuất. Các thị trường tiềm năng như Hàn Quốc, Nhật Bản, EU, Mỹ, Australia… hầu như còn bỏ ngỏ.
Bộ trưởng Nguyễn Xuân Cường đánh giá, ngành chăn nuôi lợn vốn là lợi thế của Việt Nam nhưng hầu như chưa thể XK rộng sang các nước có nhu cầu. Phần lớn lợn được XK sang Trung Quốc theo đường tiểu ngạch kiểu “lùa qua đèo, qua suối”.
Theo Bộ trưởng Nguyễn Xuân Cường, trong ba khâu: tổ chức sản xuất, chế biến và tiêu thụ, ngành chăn nuôi lợn mới làm được khâu sản xuất, hai khâu còn lại vẫn rất yếu.
“Với hơn 4 triệu tấn thịt lợn hơi, lớn hơn cả sản lượng của lúa gạo mà mỗi năm chỉ XK được có 20.000 tấn lợn sữa, vậy tổ chức chế biến và thị trường đều có vấn đề”, Bộ trưởng nói.
Trên thực tế, đánh giá về thực trạng cơ sở giết mổ lợn để XK của Việt Nam, theo Cục Thú y, Bộ NN&PTNT, cả nước hiện có 910 cơ sở giết mổ tập trung, gồm: 611 cơ sở giết mổ gia súc, 130 cơ sở giết mổ gia cầm và 76 cơ sở giết mổ cả gia súc, gia cầm.
Hầu hết số cơ sở giết mổ gia súc, gia cầm này không có hệ thống bảo quản mát pha lọc, cấp đông và kho bảo quản lạnh sản phẩm (chỉ phục vụ giết mổ để bán thịt nóng trên thị trường nội địa).
Bên cạnh đó, cả nước hiện chỉ có 8 cơ sở giết mổ lợn sữa, lợn choai để XK sang Hồng Kông, Malaysia. Các cơ sở này đều có công suất nhỏ và mới đáp ứng các yêu cầu của Hồng Kông và Malaysia.
Thịt lợn không thể XK nếu Việt Nam không có vùng an toàn dịch bệnh
Vùng an toàn dịch bệnh
Ngoài ra, nhiều thị trường đã “từ chối” thịt lợn Việt Nam vì chưa xây dựng được vùng an toàn dịch bệnh. Chẳng hạn, thịt lợn XK vào Hàn Quốc phải có nguồn gốc từ quốc gia, hoặc vùng XK không có bệnh lở mồm long móng (LMLM) được OIE công nhận. Nhưng hiện nay, Việt Nam chưa được OIE công nhận sạch bệnh LMLM nên Việt Nam chưa đủ điều kiện để Hàn Quốc tiến hành đánh giá rủi ro nhập khẩu đối với thịt lợn.
Còn muốn XK thịt lợn đông lạnh vào Singapore, điều kiện tiên quyết để Singapore xem xét cho nhập khẩu thịt lợn là phải từ quốc gia, hoặc vùng XK sạch bệnh LMLM, dịch tả lợn được OIE công nhận vì Singapore là nước đã đạt được yêu cầu này.
Đáng chú ý, từ đầu năm 2012, Chính phủ Trung Quốc đã có Văn bản số 183 cấm nhập khẩu các loại gia súc và thịt gia súc của Việt Nam, hoặc các loại thịt gia súc nhập khẩu từ các nước đi qua Việt Nam vào Trung Quốc do Việt Nam đang có dịch LMLM.
Vì vậy, mặt hàng lợn sống, thịt lợn của Việt Nam không nằm trong danh mục hàng hóa được phép nhập khẩu chính ngạch vào Trung Quốc.
Việc trao đổi để XK lợn sống, thịt lợn từ Việt Nam sang Trung Quốc đã được tổ chức thực hiện nhiều năm qua cả ở cấp Nhà nước, cấp Bộ và cấp Cục nhưng chưa có kết quả.
Theo ông Vũ Văn Tám, Thứ trưởng Bộ NN&PTNT, Việt Nam đã ký 12 Hiệp định thương mại tự do (FTA) với các nước trong khu vực, rõ ràng cơ hội XK sản phẩm chăn nuôi rất lớn. Tuy nhiên, để XK được sản phẩm chăn nuôi đòi hỏi phải có vùng an toàn dịch bệnh, nhất là kiểm soát được dịch LMLM. Và để đáp ứng được điều này, cần tổ chức lại sản xuất theo chuỗi.
Về phần doanh nghiệp (DN), ông Đào Quang Vinh, Giám đốc công ty Cổ phần Công nghệ thực phẩm Vinh
Anh, chia sẻ, những yêu cầu về nguồn nguyên liệu sản xuất và nhà máy, DN có thể đáp ứng được nhưng vấn đề khó khăn nhất là Cục Thú y cần hỗ trợ xây dựng vùng an toàn dịch bệnh theo tiêu chuẩn của Tổ chức Thú y Quốc tế.
“Mong muốn của DN là làm sao Chính phủ, các sở, ngành, cục cùng phối hợp với DN, nông dân để tạo ra vùng an toàn dịch bệnh, tới lúc đó mới có thể XK thịt lợn. Hiện nay, cơ bản sản xuất chất lượng tốt nhưng các vùng an toàn dịch bệnh chưa thể quy vùng được, cái này Chính phủ phải vào cuộc”, ông Vinh nói.
Ông Vũ Mạnh Hùng, Phó Chủ tịch Câu lạc bộ Nông nghiệp công nghệ cao Việt Nam, khẳng định, nếu DN làm tốt, xây dựng quy trình sản xuất chuỗi liên kết, chúng ta sẽ XK được. Nông dân và HTX cùng kết thành chuỗi, thành “bó đũa” mới XK thịt lợn.
Song điều ông Hùng lo ngại nhất hiện nay là Việt Nam chưa có vùng an toàn dịch bệnh. Một khi chưa xây dựng được vùng an toàn dịch bệnh, chỉ cần một vùng bị dịch bệnh, cả nước sẽ không được XK.
Đồng quan điểm, ông Vũ Trọng Nghĩa, Giám đốc công ty Cổ phần Thương mại và Đầu tư Biển Đông, cho rằng vùng an toàn dịch bệnh là điều bắt buộc phải làm.
“Năm ngoái, Bộ NN&PTNT đã chỉ đạo xây dựng thí điểm vùng an toàn dịch bệnh tại Thái Bình, Nam Định nhưng chưa làm được vì đòi hỏi kinh phí lớn”, ông Nghĩa cho biết.
Lê Thúy
Ông Vũ Trọng Nghĩa - Giám đốc công ty Cổ phần Thương mại và Đầu tư Biển Đông
Để XK thịt lợn của Việt Nam đi các nước, đặc biệt là thị trường Hàn Quốc trong thời gian tới, các cơ quan quản lý nhà nước cần hỗ trợ các DN mở thị trường cấp nhà nước cho sản phẩm thịt lợn của Việt Nam, thống nhất và tập hợp thông tin quy định quản lý kỹ thuật, thương mại với các cơ quan quản lý phía bạn, tổ chức tuyên truyền, phổ biến rộng rãi các quy định tới cộng đồng DN có nhu cầu XK.
Ông Gabor Fluit - Tổng Giám đốc De Heus châu Á
Ngành chăn nuôi Việt Nam cần thay đổi toàn diện để tạo điều kiện và cơ hội XK. Để XK chính ngạch thịt lợn sang các thị trường khó tính khác như Hàn Quốc, Nhật Bản, EU… ngoài chuyện giá thành phải cạnh tranh còn rất nhiều điều kiện khắt khe khác như quy định cơ sở chăn nuôi an toàn dịch bệnh, vùng chăn nuôi an toàn dịch bệnh, quy trình chăn nuôi khép kín từ khâu thức ăn, thú y, con giống đến trang trại, giết mổ, chế biến phải tuân thủ các quy định nghiêm ngặt.
Ông Nguyễn Xuân Cường - Bộ trưởng Bộ NN&PTNT
Để ngành chăn nuôi Việt Nam có thể XK thịt lợn sang nhiều thị trường, chúng ta cần hành động tổ chức quyết liệt ở ba cấp. Thứ nhất, những việc gì của Chính phủ mà Bộ quản lý phải làm thì phải làm quyết liệt. Thứ hai, DN phải làm “hạt nhân” liên kết cùng bà con, chính quyền tạo ra mối liên kết 4 nhà. Thứ ba, hộ nông dân, HTX cần phải chuyên môn hóa chăn nuôi, hạ giá thành chăn nuôi. Bộ NN&PTNT sẽ rà soát lại các chương trình an toàn dịch bệnh, chỉ đạo cơ quan thú y quyết liệt đàm phán, trao đổi thủ tục hành chính về thú y ở các thị trường tiềm năng.
Việc tìm được các nhà đầu tư chiến lược luôn gặp thách thức, khó khăn, thậm chí, trong một số trường hợp, còn làm trì hoãn cả quá trình cổ phần hóa (CPH). Tại sao nhà đầu tư chiến lược chưa quan tâm đầu tư vào các doanh nghiệp nhà nước (DNNN) CPH?
Muốn vào thị trường Nhật Bản, nông sản Việt không chỉ phải đáp ứng các yêu cầu khắt khe của thị trường này về vệ sinh an toàn thực phẩm, tiêu chuẩn kỹ thuật, mà còn cần đáp ứng yêu cầu rất cao về chất lượng, bao bì, mẫu mã. Cửa ngõ vào thị trường này chưa bao giờ dễ dàng dù giá trị nông sản xuất khẩu cao hơn 2-3 lần so với tiêu thụ trong nước.
Việt Nam không thiếu các khu kinh tế (KKT) lớn, nhất là các KKT ven biển nở rộ gần đây, song hiệu quả hoạt động của các KKT này chưa như kỳ vọng, thậm chí đem đến những kết quả trái chiều. Chưa kể, hầu hết KKT ở Việt Nam rất giống nhau nên đây là những nơi tạo ra cuộc đua “xuống đáy” khốc liệt nhất.
Kinh tế số sẽ xác lập luật chơi mới trên thị trường, nếu doanh nghiệp (DN) Việt chậm thay đổi, thiếu thích nghi sẽ “chết” trước cuộc đổ bộ của các DN ngoại. Bởi lẽ, DN “sống sót” không phải là DN mạnh nhất, “khỏe” nhất, mà là DN có khả năng thích ứng với sự thay đổi của môi trường, luôn nghiên cứu đổi mới và sáng tạo.
Du khách nước ngoài “mạnh tay” mua sắm ở nhiều thành phố trên thế giới nhưng dường như rất “tiết kiệm” khi du lịch ở Việt Nam. Phải chăng Việt Nam là điểm du lịch chi phí rẻ hay sản phẩm, dịch vụ du lịch của chúng ta chưa đủ sức hấp dẫn để du khách móc hầu bao cho chi tiêu.
Cuộc chiến cắt giảm điều kiện kinh doanh đang cho thấy những bước chuyển biến, song điều doanh nghiệp trông chờ nhất là hiệu quả thực tế. Bởi lẽ, những thiệt hại to lớn từ hàng rào giấy phép kinh doanh rất khó nhận ra. Đó không chỉ là thời gian, tiền bạc, cơ hội kinh doanh của doanh nghiệp mà xa hơn, còn làm giảm tính cạnh tranh của nền kinh tế.
Những ngày này, làng quất Tứ Liên bước vào quãng thời gian bận rộn nhất trong năm. Trên khắp các khu vườn, người trồng quất tất bật uốn cành, chỉnh thế, giữ dáng cho từng cây, chạy đua với thời gian để kịp đưa ra thị trường vào dịp Tết.
Dưới những ao nuôi được kè bờ chắc chắn ở thôn Văn Hưng, xã Cát Thịnh, tỉnh Lào Cai, những con ba ba gai thương phẩm đang được HTX Chăn nuôi ba ba gai Cát Thịnh chăm sóc cẩn trọng. Mỗi con có giá từ 3 đến 5 triệu đồng, chưa kể hàng vạn con giống...