Khách du lịch quốc tế: Không có tiền hay không biết mua gì?
Chọn cỡ chữ
Khách du lịch quốc tế: Không có tiền hay không biết mua gì?
Du khách nước ngoài “mạnh tay” mua sắm ở nhiều thành phố trên thế giới nhưng dường như rất “tiết kiệm” khi du lịch ở Việt Nam. Phải chăng Việt Nam là điểm du lịch chi phí rẻ hay sản phẩm, dịch vụ du lịch của chúng ta chưa đủ sức hấp dẫn để du khách móc hầu bao cho chi tiêu.
Tổng cục Thống kê cho biết, 9 tháng đầu năm 2017, Việt Nam đã đón 9,4 triệu lượt khách du lịch quốc tế đến Việt Nam và 57,9 triệu lượt khách du lịch nội địa.
Tổng thu từ khách du lịch đạt 376.000 tỷ đồng, tăng 26,5% so với cùng kỳ năm ngoái. Như vậy, so với chỉ tiêu đề ra, năm 2017, du lịch Việt Nam đón 11,5 triệu lượt khách du lịch quốc tế, phục vụ 66 triệu lượt khách du lịch nội địa, tổng thu từ khách du lịch đạt 460.000 tỷ đồng, sắp cán đích.
Lượng khách dẫn đầu,doanh thu bét bảng
Tuy nhiên, thực tế cho thấy, khách quốc tế đến Việt Nam đang chi tiêu rất ít so với các quốc gia khác. Theo Savills Việt Nam, giá hàng hóa cao, chưa đa dạng ảnh hưởng tới hoạt động du lịch mua sắm của du khách khi tới Việt Nam.
Savills dẫn số liệu của Mastercard công bố năm 2017 cho thấy, khách du lịch tới Tp.HCM chi tiêu cho mua sắm khoảng 3,5 tỷ USD. Trong khi ở những thành phố khác cùng khu vực như Singapore, con số này là 15,4 tỷ USD; Bangkok 12,7 tỷ USD; Tokyo 11,1 tỷ USD và Đài Bắc xấp xỉ 10 tỷ USD…
So với những thành phố như Seoul, Bali, Phuket, Kuala Lampur, Sydney, Hong Kong, con số này cũng chỉ bằng 30 – 50%. Trong khi đó, theo Savills, Việt Nam có tốc độ tăng trưởng khách quốc tế thậm chí cao gấp ba lần các quốc gia nói trên.
Trước đó, ông Bùi Tá Hoàng Vũ, Giám đốc Sở Du lịch Tp.HCM, cho biết, 9 tháng đầu năm nay, lượng khách du lịch quốc tế đến Tp.HCM đạt 4,2 triệu lượt, tăng 16,6% so với cùng kỳ năm trước, nhưng doanh thu chỉ tăng 10%.
Ông Vũ dẫn chứng, như huyện Cần Giờ chiếm 25% tổng lượng khách đến Tp.HCM nhưng doanh thu chỉ chiếm 0,54%. Mỗi khách du lịch đến Cần Giờ chỉ tiêu trung bình 400.000 đồng.
Khảo sát của Tổng cục Du lịch trong 5 năm trở lại đây cũng cho thấy, trong cơ cấu chi tiêu bình quân của lượt khách có nghỉ đêm tại các cơ sở lưu trú du lịch ở Việt Nam, chi tiêu cho hoạt động thuê phòng lưu trú và ăn uống thường chiếm 56 – 60%, chi tiêu cho việc mua hàng hóa, đồ lưu niệm, tham quan, hướng dẫn, vui chơi, giải trí chỉ chiếm 20 – 25% (phần còn lại là chi phí đi lại). Còn nếu chỉ tính chi phí tham quan kèm vui chơi giải trí, chỉ bằng 7 – 10% trong tổng chi phí.
Điều này cho thấy gần như toàn bộ chi phí bỏ ra cho một chuyến du lịch tại Việt Nam tập trung vào hoạt động đi lại, ăn uống, thuê phòng, trong khi rất ít du khách chi tiền cho các hoạt động vui chơi, giải trí và mua sắm.
Đáng chú ý, nếu so với các quốc gia trong khu vực như Malaysia, Thái Lan, chi phí cho hoạt động vui chơi giải trí chiếm 40 – 50%, thậm chí đến 60 – 70% tổng chi phí cho một chuyến du lịch.
Trong khi đó, Việt Nam kỳ vọng trong 3 năm tới, ngành du lịch Việt Nam thu hút được 20 triệu lượt khách quốc tế, giá trị xuất khẩu du lịch trên 20 tỷ USD. Trung bình mỗi khách khi đến Việt Nam phải đạt mức chi tiêu 1.000 USD.
Theo ông Vũ, nguyên nhân là xu hướng đặt tour, mua vé máy bay, đặt phòng khách sạn thông qua những trang đặt phòng trực tuyến của các đơn vị nước ngoài khiến các doanh nghiệp (DN) dịch vụ lữ hành thất thu lớn.
Được biết Agoda và Booking, hai hãng du lịch trực tuyến dẫn đầu và chiếm hơn 80% thị phần đặt phòng trực tuyến, hiện áp đảo cả hai mảng khách du lịch Việt Nam đi trong nước và nước ngoài cũng như khách nước ngoài đến Việt Nam.
Thị phần đặt phòng trực tuyến tại các khách sạn ở Việt Nam đang tăng nhanh, thường chiếm 30 – 40% tổng lượng khách của mỗi khách sạn. Thậm chí có những khách sạn tỷ lệ đặt phòng trực tuyến chiếm đến 80%.
Bên cạnh đó, theo ông Phạm Trung Lương, nguyên Phó Viện trưởng Viện Nghiên cứu Phát triển du lịch, các dịch vụ du lịch Việt Nam hiện nay dù được đánh giá đã đa dạng nhưng đẳng cấp vẫn thấp và chất lượng chưa được như kỳ vọng, khiến mức chi trả thấp.
Chưa kể, độ dài trung bình của các chuyến du lịch tại Việt Nam còn ngắn, lượng khách đi theo đoàn, theo tour, khách có tiền chưa trở thành phân khúc chính, mà chủ yếu là khách “Tây ba lô”.
Thời gian vừa qua, khách Trung Quốc tới Việt Nam khá nhiều, song theo đánh giá của các chuyên gia và DN lữ hành, chúng ta chưa thu hút được khách du lịch thuộc tầng lớp thượng lưu Trung Quốc.
Theo Thống kê của Tổ chức Du lịch Thế giới, trong năm qua, người Trung Quốc đã bỏ ra hơn 261 tỷ USD chi tiêu ở nước ngoài, trong đó phần lớn là chi tiêu đi du lịch.
Khách du lịch tới Tp.HCM chi tiêu cho mua sắm chỉ khoảng 3,5 tỷ USD
Tắm biển, ngắm cảnh, rồi về!
Ông Hoàng Nhân Chính, Trưởng Ban Thư ký Hội đồng Tư vấn du lịch Việt Nam, đặt vấn đề, khách “nhà giàu” Trung Quốc đến Thụy Sĩ để mua đồng hồ hàng hiệu, đến Pháp mua túi xách Louis Vuitton, đến Malaysia chơi casino. Vậy đến Việt Nam họ sẽ mua gì, chơi gì? Ông Nguyễn Văn Mỹ, Chủ tịch HĐQT công ty Du lịch Lửa Việt, cho biết, khách nước ngoài tới Việt Nam không chi tiêu cao là vì ngành du lịch chưa có sản phẩm phục vụ cho phân khúc cao cấp. Do đó, du khách không biết mua gì, chơi gì. Hàng lưu niệm không đặc sắc, hàng tiêu dùng có khi gặp phải hàng dởm.
Ông Trần Đình Thiên, Viện trưởng Viện Kinh tế Việt Nam, cho biết du khách đến miền Trung chủ yếu là đi tắm. “Chúng ta có gì hơn đi tắm đâu. Du lịch đi tắm, ý của tôi thực tế là phần giá trị gia tăng du lịch của Việt Nam rất thấp. Nhiều lần, chúng tôi đi cùng tổ tư vấn, luôn nói Đà Nẵng là thành phần cơ bản của du lịch mà vẫn thiếu thì nói gì các khu khác”, ông Thiên nói.
Theo ông Đào Xuân Khương, chuyên gia nghiên cứu marketing tại Hoa Kỳ và bán lẻ tại Đức, sản phẩm du lịch Việt Nam không thỏa mãn được nhu cầu của du khách.
Biểu hiện rõ nhất, theo ông Khương, ở chỗ khi đi đến một địa điểm, du khách thường chỉ biết chụp ảnh và ngắm cảnh, hoàn toàn không biết điểm đến là cái gì, tại sao phải đến. Đồng thời, chưa tạo ra được tiếng vang và sức hấp dẫn đặc thù cho từng sản phẩm, thương hiệu du lịch.
Vì vậy, theo các chuyên gia, để khách du lịch chi tiêu tại chỗ từ các dịch vụ vui chơi, giải trí, mua sắm, chúng ta cần xây dựng và đưa ra rất nhiều sản phẩm khác nhau, phù hợp với từng thị trường và từng đối tượng nhu cầu khách hàng, đáp ứng được xu thế về du lịch hiện nay trên thị trường trong nước và quốc tế. Nghiên cứu phát triển những cái mới về thị trường, sản phẩm, dịch vụ cũng như loại hình kinh doanh mới liên quan đến du lịch và lữ hành.
Lê Thúy
Ông Đào Xuân Khương - Chuyên gia nghiên cứu marketing tại Hoa Kỳ và bán lẻ tại Đức
Chúng ta nên gia tăng trải nghiệm, giúp du khách có thêm điểm đến, vui chơi và chi tiêu nhiều hơn. Theo đó, cần nhiều biện pháp để cải thiện hình ảnh và giảm nhanh con số hơn 80% du khách quốc tế không muốn quay lại Việt Nam như hiện nay.
Ông Trần Văn Long - Tổng Giám đốc công ty Du lịch Việt
Các công ty du lịch nên xem lại sản phẩm du lịch của mình hiện nay đang bán cho ai, cần cung cấp sản phẩm gì cho du khách và thực sự khách hàng đang muốn gì. Từ đó, mới thiết kế sản phẩm, không nên làm chương trình du lịch theo kiểu liệt kê những địa điểm cần đi, kể tên những chỗ ngủ và kể tên các món ăn. Những thông tin này du khách có thể tự tìm được trên mạng Internet.
Ông Hoàng Việt Cường - Phó Tổng Giám đốc Tập đoàn Sun Group
Công nghệ thương mại điện tử ngày càng phát triển, con người sẽ tìm đến các phương thức nhanh gọn, giản tiện hơn. Vì vậy, các DN du lịch cần tính toán, xây dựng phương thức công nghệ đi cùng như đầu tư mạnh hơn vào hệ thống thương mại điện tử, đón đầu ngay từ bước quảng bá phía nước bạn để thu hút khách nước ngoài đến Việt Nam.
Việc tìm được các nhà đầu tư chiến lược luôn gặp thách thức, khó khăn, thậm chí, trong một số trường hợp, còn làm trì hoãn cả quá trình cổ phần hóa (CPH). Tại sao nhà đầu tư chiến lược chưa quan tâm đầu tư vào các doanh nghiệp nhà nước (DNNN) CPH?
Muốn vào thị trường Nhật Bản, nông sản Việt không chỉ phải đáp ứng các yêu cầu khắt khe của thị trường này về vệ sinh an toàn thực phẩm, tiêu chuẩn kỹ thuật, mà còn cần đáp ứng yêu cầu rất cao về chất lượng, bao bì, mẫu mã. Cửa ngõ vào thị trường này chưa bao giờ dễ dàng dù giá trị nông sản xuất khẩu cao hơn 2-3 lần so với tiêu thụ trong nước.
Việt Nam không thiếu các khu kinh tế (KKT) lớn, nhất là các KKT ven biển nở rộ gần đây, song hiệu quả hoạt động của các KKT này chưa như kỳ vọng, thậm chí đem đến những kết quả trái chiều. Chưa kể, hầu hết KKT ở Việt Nam rất giống nhau nên đây là những nơi tạo ra cuộc đua “xuống đáy” khốc liệt nhất.
Kinh tế số sẽ xác lập luật chơi mới trên thị trường, nếu doanh nghiệp (DN) Việt chậm thay đổi, thiếu thích nghi sẽ “chết” trước cuộc đổ bộ của các DN ngoại. Bởi lẽ, DN “sống sót” không phải là DN mạnh nhất, “khỏe” nhất, mà là DN có khả năng thích ứng với sự thay đổi của môi trường, luôn nghiên cứu đổi mới và sáng tạo.
Mặc dù đạt sản lượng 4,2 triệu tấn mỗi năm song xuất khẩu (XK) thịt lợn của Việt Nam chỉ đạt 20.000 tấn lợn sữa, phần lớn được XK sang Trung Quốc theo đường tiểu ngạch kiểu “lùa qua đèo, qua suối”. Để ngành này phát triển bền vững, có hiệu quả, cấp thiết phải tái cơ cấu, sản xuất theo mô hình chuỗi và xây dựng vùng an toàn dịch bệnh.
Cuộc chiến cắt giảm điều kiện kinh doanh đang cho thấy những bước chuyển biến, song điều doanh nghiệp trông chờ nhất là hiệu quả thực tế. Bởi lẽ, những thiệt hại to lớn từ hàng rào giấy phép kinh doanh rất khó nhận ra. Đó không chỉ là thời gian, tiền bạc, cơ hội kinh doanh của doanh nghiệp mà xa hơn, còn làm giảm tính cạnh tranh của nền kinh tế.
Những ngày này, làng quất Tứ Liên bước vào quãng thời gian bận rộn nhất trong năm. Trên khắp các khu vườn, người trồng quất tất bật uốn cành, chỉnh thế, giữ dáng cho từng cây, chạy đua với thời gian để kịp đưa ra thị trường vào dịp Tết.
Dưới những ao nuôi được kè bờ chắc chắn ở thôn Văn Hưng, xã Cát Thịnh, tỉnh Lào Cai, những con ba ba gai thương phẩm đang được HTX Chăn nuôi ba ba gai Cát Thịnh chăm sóc cẩn trọng. Mỗi con có giá từ 3 đến 5 triệu đồng, chưa kể hàng vạn con giống...