VnBusiness

VnBusiness

VnBusiness

Cooperative

Gỡ “nút thắt” để khai mở chuỗi kinh tế lâm nghiệp

Gỡ “nút thắt” để khai mở chuỗi kinh tế lâm nghiệp

Dù sở hữu tiềm năng lớn từ tín chỉ carbon và kinh tế đa dụng, lĩnh vực lâm nghiệp vẫn bị kìm hãm bởi những điểm nghẽn về vốn, công nghệ và dữ liệu. Nếu không sớm tháo gỡ, người dân và HTX khó có thể chuyển hóa giá trị từ rừng thành lợi ích kinh tế bền vững.

Khi kinh tế xanh được chú trọng, việc phát triển rừng không chỉ dừng ở bán gỗ, bán lâm sản, dược liệu dưới tán rừng, phát triển du lịch… mà còn bán tín chỉ carbon.

Khó tham gia thị trường tín chỉ carbon

Theo thống kê của Bộ NN&MT, Việt Nam đã chuyển nhượng thành công 10,3 triệu tấn CO2, thu về 51,5 triệu USD (khoảng 1.200 tỷ đồng). Con số này cho thấy tiềm năng thương mại tín chỉ carbon từ lâm nghiệp là không hề nhỏ.

Tuy nhiên, muốn được cấp chứng chỉ carbon, các tổ chức quốc tế đều yêu người trồng rừng cần tuân thủ khâu đo đạc, báo cáo, thẩm định với các chỉ số rõ ràng.

Tuy nhiên, với không ít hộ dân và cả các HTX, việc tuân thủ các yêu cầu này là không hề dễ dàng vì khâu quản lý dữ liệu vẫn chưa được chuẩn hóa dẫn đến khó chứng minh, thẩm định về trữ lượng carbon trước và sau khi áp dụng quy trình sản xuất khắt khe.

Để đánh thức tiềm năng từ thị trường tín chỉ carbon, cần giải quyết khó khăn về vốn, côngnghệ cho người trồng rừng.
Để đánh thức tiềm năng từ thị trường tín chỉ carbon, cần giải quyết khó khăn về vốn, côngnghệ cho người trồng rừng.

Anh Triệu Đình Lộc, sinh viên trường đại học Lâm nghiệp, sáng lập THT chế biến quế và tận dụng phế phụ phẩm để tạo ra những sản phẩm hữu ích, cho biết các công nghệ như drone, viễn thám… rất phù hợp cho khâu quản lý rừng nhưng lại chưa được áp dụng nhiều ở Việt Nam.

Đặc biệt, để bán được tín chỉ carbon, việc thu thập dữ liệu, đo đạc cần máy móc, công nghệ chuyên dụng. Đi liền với đó, quá trình kiểm tra, hoàn thiện hồ sơ tốn nguồn chi phí không nhỏ đối với mỗi dự án, làm vượt khả năng của nhiều HTX.

Ông Mai Tiến Thắng, sáng lập HTX Nông - Lâm nghiệp Thành Lâm (Nghệ An), cho biết nếu diện tích của một HTX lâm nghiệp từ vài trăm đến 1.000 ha mà không có sự hỗ trợ từ công nghệ, hay hỗ trợ về đo đạc, chi phí hoàn thiện hồ sơ thì HTX khó có thể thu được giá trị kinh tế từ tín chỉ carbon bởi những chi phí này lên đến hàng trăm, thậm chí hàng tỷ đồng.

Đặt cộng đồng vào trung tâm chính sách

Muốn minh bạch hóa được các dữ liệu và nâng cao giá trị kinh tế, điều mà nhiều HTX quan tâm hiện nay chính này nguồn vốn đầu tư. Ông Bùi Phi Diệp, Chủ tịch HĐQT HTX dược liệu Yên Trị (Phú Thọ), cho biết HTX cần tiếp cận nguồn vốn ưu đãi, vốn xanh để phát triển chuỗi giá trị lâm nghiệp minh bạch.

“Hiện, các tổ chức tín dụng đều yêu cầu phải có tài sản đảm bảo. Nhưng tài sản của HTX lâm nghiệp chủ yếu là cây trồng trên đất rừng, chưa được định giá cao làm tài sản thế chấp. Điều này khiến HTX khó huy động vốn xanh để đầu tư máy móc, công nghệ”.

Có thể thấy, để HTX có thể tham gia "cuộc chơi" này, các chuyên gia cho rằng cần một hệ thống đo đạc chuẩn xác về trữ lượng carbon. Các khâu như quản lý, đo đạc nếu thực hiện thủ công không chỉ không chính xác mà còn kéo dài thời gian, tốn kém. Trong khi dữ liệu liên quan chưa được số hóa đồng bộ đến từng mảnh rừng của HTX, việc xác minh tín chỉ để giao dịch quốc tế sẽ rất khó khăn.

Tại tọa đàm “Giá trị kinh tế và sinh kế từ rừng” tổ chức ngày 18/3, ông Trần Quang Bảo, Cục trưởng Cục Lâm nghiệp, cho rằng rừng là nền tảng phát triển kinh tế bền vững ở nhiều địa phương. Tuy nhiên, để thu được giá trị kinh tế nhiều hơn từ rừng, cần đặt cộng đồng người dân, HTX làm trong lĩnh vực này vào trung tâm của các chính sách phát triển để đảm bảo tính thực thi.

Trong đó, cần có những chính sách về tín dụng ưu đãi đặc thù cho HTX lâm nghiệp đầu tư công nghệ chế biến đi liền với sự đồng hành, hỗ trợ họ quản lý, số hóa dữ liệu một cách minh bạch.

Bên cạnh nguồn vốn và công nghệ, bài toán về thời gian cũng không nên bảo qua. Bởi theo ông Lê Minh Tuân, Giám đốc công ty lâm nghiệp ở Lạng Sơn, chu kỳ trồng rừng gỗ lớn thường kéo dài từ 7 năm trở lên. Còn trồng các cây có giá trị kinh tế cao dưới tán rừng như hoàng đàn, macca, dẻ ván phải từ 5 năm mới cho thu hoạch. Do đó, Nhà nước cần có cơ chế cho vay lãi suất ưu đãi với thời hạn dài hơn (từ 7-10 năm) thay vì các gói vay ngắn hạn như hiện nay.

Thực tế từ các quốc gia có kinh tế lâm nghiệp phát triển triển như Hà Lan, Hoa Kỳ… cho thấy, chi phí để duy trì các chứng nhận rừng và thực hiện quản lý rừng thường chiếm khoảng 20% tổng doanh thu dự án carbon. Do đó, để tránh những phát sinh trong những khâu này cho các HTX tại Việt Nam, việc hình thành các mô hình chuỗi giá trị quy mô lớn với sự liên kết của các HTX cả trong trồng gỗ và lâm sản ngoài gỗ, du lịch sẽ giúp chia sẻ các nguồn vốn về đầu tư máy móc, công nghệ cũng như tạo thuận lợi trong việc số hóa tập trung.

Chỉ khi các nút thắt về hạ tầng dữ liệu, công nghệ và  nguồn vốn xanh được tháo gỡ, những diện tích rừng sản xuất theo tiêu chuẩn của HTX mới thực sự chuyển hóa thành những giá trị kinh tế bền vững, góp phần hoàn thiện mục tiêu Netzero mà Việt Nam đang hướng tới.

“Thanh niên có rất nhiều sáng kiến về phát triển chuỗi lâm nghiệp, tham gia thị trường tín chỉ carbon. Nhưng các ngành chức năng cần có cơ chế giúp sinh viên tiếp cận được với doanh nghiệp, quỹ đầu tư để những sáng kiến được đi vào thực tiễn”, anh Triệu Đình Lộc cho biết.

Huyền Trang

Video Gỡ nút thắt hạ tầng, HTX vươn lên từ sản phẩm ocop

Từ những hạn chế về hạ tầng, HTX Yến Dương và một số HTX tại Thái Nguyên đang chuyển mình nhờ đầu tư nhà xưởng đồng bộ, qua đó nâng cao chất lượng sản phẩm OCOP và gia tăng sức cạnh tranh. Đây là minh chứng rõ nét cho hiệu quả của chính sách hỗ trợ...

VnBusiness