Mức độ lan tỏa giữa khối doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) và doanh nghiệp tư nhân chưa tốt, mặc dù liên kết có chuyển động nhưng rất chậm chạp. Vì vậy, cần xây dựng lại khung chính sách FDI, trong đó coi nhiệm vụ tăng năng lực của khu vực DN trong nước là một cấu thành quan trọng.
Ông Nguyễn Mại, Chủ tịch Hiệp hội DN đầu tư nước ngoài (VAFIE), cho rằng nhược điểm chính của thu hút FDI chính là tác động lan tỏa chưa được như kỳ vọng. Điều đó được thể hiện trong việc các DN Việt Nam vẫn hạn chế tham gia vào chuỗi cung ứng toàn cầu.
“Hiện chỉ có 21% DN Việt Nam tham gia chuỗi cung ứng toàn cầu, trong khi ở Thái Lan tỷ lệ này là 30%, Malaysia là 46%. Rõ ràng, Việt Nam đang kém xa các nước trong khu vực”, ông Mại nói.
Nội địa hóa chỉ 10%
Trong chuỗi giá trị có hai đầu: giá trị gia tăng cao và giá trị gia tăng thấp. Với đầu giá trị gia tăng thấp như dệt, lụa, thiết kế, các DN Việt Nam tham gia vào chủ yếu là may. Trong khi đầu giá trị gia tăng cao là tiêu thụ, các DN FDI gần như chiếm toàn bộ. Như vậy, giá trị gia tăng chung của ngành dệt may chỉ đạt 15% kim ngạch.
Ngành da giày cũng vậy, các DN Việt Nam chỉ sản xuất, còn khâu tiêu thụ, marketing vẫn thuộc về các DN nước ngoài.
Ông Đậu Anh Tuấn, Trưởng Ban Pháp chế, Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI), ám ánh về một con số. Đó là cách đây một năm, 10 đồng xuất khẩu của Việt Nam, 5 đồng thuộc về DN FDI, nhưng đến nay con số này là 7,5 đồng. DN FDI tại Việt Nam tham gia vào chuỗi sản xuất toàn cầu rất tốt.
Trong khi đó, trở lại câu hỏi chính, lan tỏa giữa khối DN FDI và DN tư nhân còn chưa tốt khi hàng năm, VCCI đều có những cuộc điều tra cho thấy, các DN FDI chỉ mua khoảng 26,6% thiết bị, đầu vào từ DN Việt, còn lại nhập khẩu và nhập từ công ty mẹ. Đây là kết quả rất khiêm tốt, dù liên kết có chuyển động nhưng rất chậm chạp.
Bà Nguyễn Thị Tuệ Anh, Phó Viện trưởng Viện Quản lý kinh tế Trung ương (CIEM), đặt vấn đề, các DN FDI ở Việt Nam đem lại lợi ích gì ngoài những gì chúng ta nhìn thấy được như đóng góp ngân sách, tăng trưởng.
Trong khi vấn đề chính được quan tâm là tác động lan tỏa chiều sâu của FDI đến khu vực trong nước, tức là sau khi họ đi sẽ để lại những cái gì? FDI có lan tỏa về mặt không gian hay không, nếu có là liên kết xuôi hay ngược?
Theo tính toán, cứ tăng 1% FDI ở các ngành liên kết xuôi, sẽ làm xác suất đóng cửa của DN tư nhân ở mức 10,5%. Các DN sản xuất cuối cùng của Việt Nam chủ yếu gia công xuất khẩu nên áp lực cạnh tranh thị phần trong nước thấp như các DN tư nhân ngành may, da giày…
Do đó, căn cứ để thu hút FDI cho lĩnh vực ưu tiên và ưu đãi cho FDI là cung ứng đầu vào cho ngành này. Chúng ta nên phát triển một số DN đủ quy mô lớn như vậy và ưu tiên các DN FDI cung ứng đầu vào cho khu vực DN này.
“Cũng như cứ tăng 1% FDI ở các ngành liên kết ngược có thể dẫn đến làm tăng xác suất đóng cửa tới 15,4%, bằng chứng về sự yếu kém của DN công nghiệp hỗ trợ trong nước. Cho nên quá nhiều hỗ trợ DN nước ngoài vào đây sẽ tăng áp lực lên phát triển DN trong nước”, bà Tuệ Anh nói.
Ông Phạm Anh Tuấn, Tổng trưởng Ban Kế hoạch chiến lược của Toyota Việt Nam (TMV), đặt câu hỏi, công nghiệp ô tô, xe máy thành lập gần như cùng thời điểm nhưng tại sao xe máy nội địa hóa 80% còn ô tô chỉ khoảng 20%?
Nguyên nhân không chỉ ở vấn đề công nghệ mà còn về sản lượng. Tăng trưởng sản lượng ô tô rất thấp, thấp hơn nhiều so với xe máy nên rất khó phát triển. Sản lượng ô tô ở Việt Nam hiện nay đạt 300.000 chiếc mỗi năm, trong đó Toyota có khoảng 50.000 chiếc và 4 mẫu xe. Sản lượng thấp nên rất khó nội địa hóa. Nội địa hóa không phải là thành tích để giảm giá thành.
Thậm chí có ý kiến thẳng thắn cho rằng khi đầu tư, nhiều DN FDI cam kết tỷ lệ nội địa hóa cao nhưng lúc này phổ biến chỉ ở 10%.
Để giúp các DN có năng lực, tạo ra sản phẩm “made in Vietnam” phải có những chính sách hỗ trợ họ
Cần “bàn tay” chính sách
Theo ông Đặng Xuân Quang, Phó Cục trưởng Cục Đầu tư nước ngoài, thực tế DN FDI thực sự có nhu cầu kết nối, nhưng tại sao mối liên kết còn hạn chế. Chúng tôi đã phân tích một số nguyên nhân rõ ràng là trong giai đoạn đầu tư thu hút FDI, chúng ta đã thu hút được rất nhiều yếu tố như vốn, công nghệ, lao động. Bắt đầu từ năm 2005, chúng ta bị giới hạn bởi WTO, nên những biện pháp khuyến khích chuyển giao công nghệ dựa trên cơ sở nội địa hóa bị giới hạn.
Ông Mại cũng cho rằng muốn thành công cần có hai yếu tố là tự tin và chủ động. Tuy nhiên, các DN Việt hay tự ti và thiếu chủ động tìm kiếm đối tác. Các DN FDI và DN trong nước đều cần chủ động hơn trong hợp tác để nâng tầm liên kết lên. Chính sách với các DN trong nước làm việc với DN FDI cũng cần được ưu đãi.
“Cần phải điều chỉnh chính sách đầu tư. Từ đầu năm tới nay có nhiều dự án đầu tư nước ngoài có quy mô rất nhỏ mà vẫn được cấp phép, trong khi các DN Việt Nam cũng đảm đương được”, ông Mại nói.
Bà Tuệ Anh đồng tình DN phải chủ động nhưng nếu DN quá nhỏ, cần có bàn tay của Nhà nước. Cần phải có liên kết giữa các cơ quan quản lý chính sách và có chính sách liên kết vùng. Đối với vùng xa có thể giúp các vùng này cạnh tranh nhiều hơn.
Đồng thời chính sách FDI hiện chưa làm tốt vai trò tạo liên kết giữa DN FDI với DN trong nước. Do đó, cần xây dựng khung chính sách FDI với việc coi nhiệm vụ tăng năng lực của khu vực DN trong nước, đặc biệt DN tư nhân, là một cấu thành quan trọng của chính sách FDI. Có như vậy mới tăng hiệu quả của FDI.
Ông Phan Hữu Thắng, nguyên Cục trưởng Cục Đầu tư nước ngoài, kiến nghị, Nhà nước phải đứng ra, Bộ KH&ĐT làm đầu mối, làm rõ tác động lan tỏa. Không nên trông chờ vào việc nhà đầu tư nước ngoài mở cửa cho DN Việt nếu DN chúng ta còn vừa yếu vừa thiếu. Họ phải chờ mình lớn lên để chọn lựa.
“Tuy nhiên, không thể ép một DN như trẻ con 2, 3 tuổi trong ngày một ngày hai thành người đủ 18 tuổi để lập gia đình. Để giúp cho các DN có năng lực, tạo ra sản phẩm ‘made in Vietnam’ phải có những chính sách để hỗ trợ họ. Cùng với đó, DN Việt cũng nên bỏ kiểu cạnh tranh nói xấu nhau, cần chú trọng nâng cao sản phẩm hơn nữa.
Phải đáp ứng chất lượng tiêu chuẩn cao mà không thể bắt họ phải hợp tác với mình được”, ông Thắng khuyến nghị.
Thy Lê
Bà Nguyễn Thị Tuệ Anh - Phó Viện trưởng Viện Nghiên cứu Quản lý kinh tế Trung ương
Các DN nhỏ và vừa của Việt Nam khi tham gia vào chuỗi cung ứng là điều vô cùng khó khăn. Do đó, để DN nội địa có thể đáp ứng được là bài toán không hề đơn giản. Các DN nhỏ và vừa của Việt Nam không nên tham vọng làm nhà cung ứng cấp 1 của Samsung mà trước tiên hãy làm nhà cung ứng cấp 2, cấp 3. Sau một thời gian tích lũy kinh nghiệm, chất lượng, DN sẽ có đủ tự tin hơn để trở thành nhà cung ứng cấp 1.
Ông Hyun Woo Bang - Phó Tổng Giám đốc Samsung Vietnam
Nhà đầu tư nước ngoài nộp 1 tỷ đồng tiền thuế, họ sẽ bỏ túi 4 tỷ đồng. DN trong nước cũng vậy. Tuy nhiên, 4 tỷ của DN Việt sẽ vẫn ở lại Việt Nam, còn 4 tỷ của nhà đầu tư nước ngoài sẽ được chuyển về nước họ. Vì vậy, cần có nhiều chính sách ưu đãi và tạo điều kiện cho DN trong nước. Song DN Việt phải khẳng định quyết tâm làm được, bởi nhiều DN nước ngoài chưa dám chuyển cho DN Việt vì sợ rủi ro. Chỉ cần một dây chuyền sản xuất bị lỗi, họ phải thu hồi hàng nghìn sản phẩm và chi phí thiệt hại rất lớn.
Ông Lê Duy Thành - Phó Chủ tịch UBND tỉnh Vĩnh Phúc
Thời gian tới, định hướng thu hút FDI cần chọn lọc, trong đó phải mở ra cơ hội cho DN trong nước tham gia vào chuỗi giá trị của DN FDI và có bước chuẩn bị trước để chủ động đón nhận. Có thể coi cơ hội tham gia vào chuỗi giá trị này là điều kiện để thu hút FDI. Đồng thời cần đặt mục tiêu cải thiện các chỉ số liên quan đến lan tỏa FDI để theo dõi và giám sát như: Chỉ số về năng lực hấp thụ công nghệ; FDI và chuyển giao công nghệ; Số lượng và chất lượng nhà cung ứng nội địa; Bề rộng của chuỗi và nhân tài.
Việc tìm được các nhà đầu tư chiến lược luôn gặp thách thức, khó khăn, thậm chí, trong một số trường hợp, còn làm trì hoãn cả quá trình cổ phần hóa (CPH). Tại sao nhà đầu tư chiến lược chưa quan tâm đầu tư vào các doanh nghiệp nhà nước (DNNN) CPH?
Muốn vào thị trường Nhật Bản, nông sản Việt không chỉ phải đáp ứng các yêu cầu khắt khe của thị trường này về vệ sinh an toàn thực phẩm, tiêu chuẩn kỹ thuật, mà còn cần đáp ứng yêu cầu rất cao về chất lượng, bao bì, mẫu mã. Cửa ngõ vào thị trường này chưa bao giờ dễ dàng dù giá trị nông sản xuất khẩu cao hơn 2-3 lần so với tiêu thụ trong nước.
Việt Nam không thiếu các khu kinh tế (KKT) lớn, nhất là các KKT ven biển nở rộ gần đây, song hiệu quả hoạt động của các KKT này chưa như kỳ vọng, thậm chí đem đến những kết quả trái chiều. Chưa kể, hầu hết KKT ở Việt Nam rất giống nhau nên đây là những nơi tạo ra cuộc đua “xuống đáy” khốc liệt nhất.
Kinh tế số sẽ xác lập luật chơi mới trên thị trường, nếu doanh nghiệp (DN) Việt chậm thay đổi, thiếu thích nghi sẽ “chết” trước cuộc đổ bộ của các DN ngoại. Bởi lẽ, DN “sống sót” không phải là DN mạnh nhất, “khỏe” nhất, mà là DN có khả năng thích ứng với sự thay đổi của môi trường, luôn nghiên cứu đổi mới và sáng tạo.
Mặc dù đạt sản lượng 4,2 triệu tấn mỗi năm song xuất khẩu (XK) thịt lợn của Việt Nam chỉ đạt 20.000 tấn lợn sữa, phần lớn được XK sang Trung Quốc theo đường tiểu ngạch kiểu “lùa qua đèo, qua suối”. Để ngành này phát triển bền vững, có hiệu quả, cấp thiết phải tái cơ cấu, sản xuất theo mô hình chuỗi và xây dựng vùng an toàn dịch bệnh.
Du khách nước ngoài “mạnh tay” mua sắm ở nhiều thành phố trên thế giới nhưng dường như rất “tiết kiệm” khi du lịch ở Việt Nam. Phải chăng Việt Nam là điểm du lịch chi phí rẻ hay sản phẩm, dịch vụ du lịch của chúng ta chưa đủ sức hấp dẫn để du khách móc hầu bao cho chi tiêu.
Cuộc đua hút tiền gửi trong hệ thống ngân hàng đang nóng lên rõ rệt khi mặt bằng lãi suất huy động liên tục được điều chỉnh tăng, thậm chí xuất hiện các mức lãi suất tiệm cận 9–10%/năm dành cho những khoản tiền gửi lớn.
Gắn kết với Chương trình Mỗi xã một sản phẩm (OCOP), khu vực kinh tế tập thể tại Quảng Trị đang tạo ra những chuyển biến rõ nét. Nhiều HTX không chỉ nâng cao giá trị nông sản mà còn từng bước mở rộng thị trường, khẳng định vai trò động lực trong...