Việt Nam trước ngưỡng cửa chọn vốn, không còn là thời của xin vốn
Nghị quyết số 10-NQ/TW xác định “Chuyển trọng tâm từ mục tiêu thu hút các dòng vốn quốc tế sang phát triển hiệu quả các dòng vốn đó để cùng nội lực của đất nước kiến tạo những năng lực phát triển mới của quốc gia”. Mục tiêu đặt ra là đến năm 2030, 75% vốn FDI phải đến từ các nền kinh tế phát triển, phản ánh định hướng nâng cao chất lượng thu hút đầu tư nước ngoài.
Đây là mục tiêu không dễ thực hiện, nhưng cũng không thể không đạt được nếu Việt Nam muốn bước sang giai đoạn phát triển mới. Nếu giai đoạn 1988-2025 là thời kỳ tập trung "thu hút vốn" đầu tư nước ngoài, thì từ năm 2026 đến 2045 sẽ là giai đoạn Việt Nam phải chuyển sang lựa "chọn dòng vốn", ưu tiên những dự án có hàm lượng công nghệ cao, giá trị gia tăng lớn và khả năng lan tỏa đối với nền kinh tế.
Dòng vốn không giảm, nhưng dịch chuyển mạnh
Trong 20 năm tới, thế giới sẽ chứng kiến 5 xu thế lớn diễn ra đồng thời, gồm tái cấu trúc chuỗi cung ứng toàn cầu, cạnh tranh công nghệ giữa các cường quốc, chuyển đổi xanh hướng tới Net Zero, sự bùng nổ của trí tuệ nhân tạo, bán dẫn, dữ liệu và kinh tế số, cùng quá trình già hóa dân số tại nhiều nền kinh tế phát triển.
Cộng hưởng của 5 xu thế này sẽ làm thay đổi hẳn hướng chảy của dòng vốn quốc tế. Vốn sẽ không còn tìm đến những nơi có lao động giá rẻ như trước, mà chuyển sang công nghệ cao, bán dẫn, trung tâm dữ liệu, trí tuệ nhân tạo, năng lượng sạch, công nghệ sinh học, tài chính quốc tế, logistics thông minh và hạ tầng số.
Nói ngắn gọn, nếu giai đoạn 1988-2025 là cuộc cạnh tranh thu hút nhà máy, thì giai đoạn 2026-2045 sẽ là cuộc cạnh tranh thu hút công nghệ, vốn tài chính và trung tâm đổi mới sáng tạo. Đây là sự thay đổi về bản chất cuộc chơi, không đơn thuần là thay đổi về quy mô.
Nếu Việt Nam thực hiện tốt tinh thần Nghị quyết 10-NQ/TW và triển khai cải cách thể chế đủ mạnh, giai đoạn 2026-2035 có thể chứng kiến vốn FDI đăng ký đạt 45 - 60 tỷ USD mỗi năm, với vốn FDI thực hiện đạt 35 - 45 tỷ USD mỗi năm. So với mức khoảng 25 - 30 tỷ USD thực hiện hiện nay, đây là mức tăng khoảng 50 - 80%, đưa tổng vốn FDI thực hiện cả giai đoạn lên 350 - 450 tỷ USD.
Bước sang giai đoạn 2036-2045, nếu Việt Nam đạt được vị thế quốc gia thu nhập cao, vốn FDI thực hiện có thể đạt 50 - 70 tỷ USD mỗi năm, đưa tổng vốn cả giai đoạn lên 500 - 700 tỷ USD. Cộng gộp cả hai mươi năm, Việt Nam có khả năng thu hút 850 - 1.100 tỷ USD vốn FDI thực hiện, quy mô lớn nhất trong lịch sử phát triển kinh tế của đất nước.
Nhưng con số ấn tượng nhất của giai đoạn tới có lẽ không nằm ở FDI. Nếu trước đây đầu tư trực tiếp nước ngoài luôn giữ vai trò chủ đạo, thì giai đoạn tới, đầu tư gián tiếp nước ngoài (FII) sẽ tăng nhanh hơn hẳn FDI.
Nhóm nhà đầu tư gián tiếp này gồm các quỹ đầu tư quốc tế, quỹ hưu trí, quỹ đầu tư quốc gia (Sovereign Wealth Funds), quỹ đầu tư cơ sở hạ tầng, quỹ ESG (Môi trường, Xã hội và Quản trị) và quỹ đầu tư công nghệ.
Một khi Việt Nam nâng hạng được thị trường chứng khoán và hình thành trung tâm tài chính quốc tế, dòng vốn gián tiếp có thể đạt 20 - 40 tỷ USD mỗi năm trong giai đoạn 2030-2045.
Điểm thay đổi căn bản nằm ở cách nhìn về chất lượng dòng vốn. Ở các giai đoạn phát triển trước, dù không được nêu rõ tại bất kỳ văn bản pháp lý nào, thực tế cho thấy các địa phương Việt Nam đều hướng tới việc dùng FDI để giải quyết ngay những vấn đề trước mắt, đó là vốn lớn, giải quyết được nhiều lao động, và xuất khẩu nhiều. Cách tiếp cận đó đã đóng góp lớn cho giai đoạn vừa qua, nhưng không còn phù hợp cho giai đoạn tới.
Bước vào giai đoạn mới, Việt Nam cần ưu tiên 3 nhóm tiêu chí. Thứ nhất là công nghệ, gồm trí tuệ nhân tạo, chip bán dẫn, robot và dữ liệu, với giá trị gia tăng thực sự đến từ việc tổ chức được các trung tâm nghiên cứu và phát triển, hoạt động thiết kế sản phẩm và sở hữu trí tuệ ngay tại Việt Nam, chứ không chỉ là nơi lắp ráp. Thứ hai là mức độ liên kết với doanh nghiệp trong nước, thể hiện qua tỷ lệ nội địa hóa, chuyển giao công nghệ và đào tạo nhân lực thực chất. Thứ ba là định hướng phát triển xanh, tập trung vào năng lượng tái tạo, kinh tế tuần hoàn và hydrogen xanh.
Nguồn vốn nào sẽ dẫn dắt
Việc nhận diện rõ những quốc gia nào sẽ là nguồn vốn lớn nhất trong giai đoạn tới có ý nghĩa quyết định đối với công tác xúc tiến đầu tư. Từ thực tế thu hút và quản lý đầu tư nước ngoài đến nay, có thể phác họa 5 nhóm quốc gia đáng chú ý nhất.
Hoa Kỳ có tiềm năng trở thành nguồn vốn chiến lược số một vào Việt Nam, tập trung vào trí tuệ nhân tạo, bán dẫn, trung tâm dữ liệu, tài chính, hàng không và công nghệ sinh học, với sự hiện diện có thể mở rộng của các tập đoàn như Apple, NVIDIA, Microsoft, Google và Amazon.
Nhật Bản tiếp tục là nhà đầu tư dài hạn quan trọng nhất, với thế mạnh về công nghiệp chế tạo, hạ tầng, đường sắt, năng lượng và công nghệ môi trường.
Hàn Quốc vẫn nằm trong nhóm dẫn đầu, đặc biệt ở lĩnh vực điện tử, pin, xe điện và công nghiệp hỗ trợ, do các tập đoàn như Samsung, LG, SK Group và Hyundai Motor Company dẫn dắt.
Liên minh châu Âu, với các nước nổi bật là Đức, Hà Lan, Pháp và Đan Mạch, sẽ tập trung vào công nghệ xanh, hydrogen, logistics, tài chính và dược phẩm.
Singapore tiếp tục giữ vai trò trung tâm trung chuyển vốn lớn nhất vào Việt Nam, thông qua các quỹ đầu tư, vai trò trung tâm tài chính, bất động sản công nghiệp và hạ tầng logistics.
Bên cạnh 5 nhóm truyền thống, 2 nguồn vốn mới đang nổi lên rất mạnh đáng được theo dõi sát. Khu vực Trung Đông, gồm Các Tiểu vương quốc Ả Rập Thống nhất, Ả Rập Xê Út và Qatar, sở hữu các quỹ đầu tư quốc gia với tài sản lên tới hàng nghìn tỷ USD, có thể trở thành nguồn vốn chiến lược cho trung tâm tài chính, cảng biển, hạ tầng, năng lượng và trí tuệ nhân tạo. Ấn Độ hiện vẫn còn khiêm tốn nhưng có thể tăng mạnh sau năm 2030, tập trung vào công nghệ số, dược phẩm và dịch vụ toàn cầu.
Điều quan trọng nhất đối với Việt Nam đến năm 2045 không phải là thu hút được bao nhiêu tỷ USD, mà là bao nhiêu phần trăm dòng vốn đó tạo ra được công nghệ, doanh nghiệp Việt Nam lớn mạnh và năng lực cạnh tranh quốc gia. Đây mới là tiêu chí thật sự phản ánh chất lượng của một chiến lược thu hút đầu tư, chứ không phải quy mô vốn giải ngân.
Với quyết tâm của toàn Đảng, toàn dân cùng đội ngũ doanh nghiệp, doanh nhân Việt Nam đã nhận rõ tầm quan trọng của Nghị quyết 10-NQ/TW, đây là nghị quyết cần được triển khai hiệu quả để đến năm 2045, Việt Nam có thể chuyển từ vị thế "điểm đến của dòng vốn quốc tế" thành "trung tâm sản xuất, đổi mới sáng tạo và tài chính mới của châu Á".
Đó mới là sự thay đổi mang tính chiến lược mà Nghị quyết 10 đang hướng tới, và cũng là tiêu chí quan trọng nhất để đánh giá chất lượng dòng vốn FDI và FII trong 20 năm tới.
TS. Phan Hữu Thắng
Nguyên Cục Trưởng Cục Đầu tư nước ngoài

‘Cơn sốt’ bạc để lại điều gì sau cú rơi hơn 50%?
Lãi suất neo cao bào mòn lợi nhuận và nỗi lo nợ xấu doanh nghiệp
Trái phiếu 165,4 tỷ đồng của Verdant Bravo được nâng hạng nhờ tổ chức quốc tế
Giá vàng mất thêm tới 1 triệu đồng, về 150 triệu đồng/lượng

Theo dòng Cổ Chiên: Từ dòng sông mở cõi đến cách đô thị viết tiếp tương lai
Bất động sản đối mặt "ba tầng áp lực", doanh nghiệp bước vào cuộc thanh lọc
T&T Group - Hilton và chiến lược lan tỏa chuẩn mực quốc tế cho các đô thị ĐBSCL
Chờ đợi gì vào bất động sản trong nửa cuối năm?
Quy hoạch tổng thể Thủ đô Hà Nội tầm nhìn 100 năm
Tầm nhìn 100 năm với những mục tiêu phát triển đầy tham vọng là điểm nhấn của Quy hoạch tổng thể Thủ đô Hà Nội được công bố sáng 29/6.
Đừng bỏ lỡ
Khe Sanh Coffee: Từ vùng biên đến thương hiệu cà phê đặc sản
Không chỉ dừng lại ở sản xuất nguyên liệu, HTX Nông sản Khe Sanh đã xây dựng chuỗi giá trị khép kín, giúp người trồng cà phê nâng cao thu nhập và tạo dựng thương hiệu Khe Sanh Coffee trên thị trường. Thành quả ấy tiếp tục được khẳng định khi sản...


































