Việt Nam vào nhóm thu nhập trung bình cao: Thách thức lớn hơn đang ở phía trước
Việc Việt Nam chính thức được World Bank xếp vào nhóm quốc gia có thu nhập trung bình cao là cột mốc quan trọng sau nhiều năm tăng trưởng liên tục. Tuy nhiên, theo các chuyên gia, vượt qua một ngưỡng phân loại mới chỉ là bước khởi đầu, còn bài toán nâng năng suất, đẩy mạnh công nghiệp hóa và tránh "bẫy thu nhập trung bình" mới là phép thử thực sự đối với nền kinh tế.
Như đã đưa tin, Việt Nam mới đây đã chính thức được World Bank (Ngân hàng Thế giới) xếp hạng vào nhóm các nền kinh tế thu nhập trung bình cao. Phân loại của Ngân hàng Thế giới dựa trên ước tính tổng thu nhập quốc gia (GNI) bình quân đầu người của năm dương lịch trước đó. Với GNI bình quân đầu người năm 2025 đạt 4.970 USD, Việt Nam vừa vượt ngưỡng thu nhập trung bình cao, song vẫn còn khoảng cách lớn so với nhóm thu nhập cao, vốn được xác định ở mức trên 14.375 USD/người.
Dấu mốc quan trọng nhưng chưa phải đích đến
Bình luận về dấu mốc này, bà Nguyễn Thị Mai Hạnh, Trưởng ban Hệ thống tài khoản quốc gia, Cục Thống kê, cho biết, việc Ngân hàng Thế giới xếp Việt Nam vào nhóm quốc gia thu nhập trung bình cao là một dấu mốc rất quan trọng, phản ánh thành quả của quá trình tăng trưởng kinh tế ổn định của trong nhiều năm qua, đồng thời cũng cho thấy quy mô và chất lượng của nền kinh tế tiếp tục được cải thiện, thu nhập và mức sống của người dân từng bước được nâng lên.
Tuy nhiên, bà Hạnh lưu ý đây chủ yếu là sự thay đổi về ngưỡng phát triển, không đồng nghĩa với việc Việt Nam đã trở thành nền kinh tế phát triển. Mức thu nhập bình quân của Việt Nam cũng còn khoảng cách đáng kể so với các nước thu nhập cao.
Theo bà Nguyễn Thị Mai Hạnh, năng suất lao động, năng lực đổi mới sáng tạo và sức cạnh tranh của nền kinh tế thì vẫn cần tiếp tục được nâng lên.
Việc gia nhập nhóm thu nhập trung bình cao sẽ mở ra rất nhiều thuận lợi cho Việt Nam như nâng cao uy tín và vị thế quốc tế, tăng sức hấp dẫn đối với các nhà đầu tư, tạo điều kiện thu hút dòng vốn đầu tư chất lượng cao và thúc đẩy hội nhập sâu hơn vào chuỗi giá trị toàn cầu.
Bên cạnh đó, Việt Nam cũng sẽ phải đối mặt với không ít thách thức như nguồn vốn vay ưu đãi và hỗ trợ phát triển quốc tế có thể giảm dần. Yêu cầu về chất lượng tăng trưởng về công nghệ, phát triển nguồn nhân lực và đảm bảo phát triển bền vững sẽ cao hơn.
“Điều này đòi hỏi nền kinh tế phải chuyển mạnh từ mô hình tăng trưởng dựa vào vốn và lao động sang mô hình dựa trên năng suất, khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn lực”, bà Hạnh nhấn mạnh.
Tại sự kiện ra mặt sách Kinh tế tư nhân Việt Nam diễn ra chiều 6/7, chuyên gia kinh tế Phạm Chi Lan nhắc lại rằng trước đây, khi Chính phủ đặt mục tiêu đến năm 2030 Việt Nam đạt mức thu nhập trung bình cao, nhiều ý kiến đã cho rằng đây là mục tiêu khó. Trong Báo cáo Việt Nam 2035, Ngân hàng Thế giới cũng từng khuyến nghị Việt Nam cần đáp ứng nhiều điều kiện để có thể đạt được mức thu nhập trung bình cao vào năm 2035. Thế nhưng thực tế Việt Nam đã đạt được mục tiêu này sớm hơn tới gần 10 năm.
Dù vậy, bà Lan cho rằng sau khi đã bước vào nhóm thu nhập trung bình cao, Việt Nam không nên chỉ nhìn về thu nhập bình quân đầu người mà còn phải lo về năng suất lao động, nền tảng tăng trưởng, đóng góp của khoa học công nghệ, khả năng tạo giá trị gia tăng và vị trí trong chuỗi giá trị toàn cầu.
Theo bà Phạm Chi Lan, không thể chỉ nhìn vào quy mô xuất khẩu nhiều nếu nền kinh tế vẫn chủ yếu làm gia công, giá trị gia tăng rất thấp, kể cả khu vực có vốn đầu tư nước ngoài.
“Còn nhiều điều phải làm lắm”, chuyên gia nói.
Dư địa tăng trưởng nằm ở năng suất tổng hợp
Các chuyên gia đã đề cập đến thách thức rất sát với Việt Nam sau khi bước vào nhóm thu nhập trung bình cao. Khi chi phí lao động tăng, lợi thế nhân công rẻ suy giảm, còn năng lực công nghệ và quản trị chưa đủ mạnh, một nền kinh tế dễ bị kẹt lại ở mức trung bình.
Bàn về triển vọng tăng trưởng của Việt Nam, GS Trần Văn Thọ, Giáo sư danh dự Đại học Waseda (Nhật Bản) cho rằng, Việt Nam hiện nay có nhiều điểm tương đồng với Nhật Bản vào khoảng thập niên 1950. Khi đó Nhật Bản cũng vừa đạt mức thu nhập trung bình cao, trong khi nhiều chỉ tiêu phát triển khác cũng khá giống với Việt Nam hiện nay như tỷ trọng công nghiệp trong GDP và trong tổng lao động.
Sau thời điểm đó, Nhật Bản đã duy trì tốc độ tăng trưởng rất cao trong gần 20 năm, qua đó vươn lên trở thành cường quốc công nghiệp và gia nhập nhóm các nước phát triển hàng đầu thế giới.
“Tôi cho rằng dư địa để Việt Nam tăng trưởng nằm ở năng suất tổng hợp. Năng suất tổng hợp tăng nhanh, kinh tế Việt Nam có thể tăng trưởng hai con số. Hiện tại, năng suất tổng hợp của Việt Nam còn tương đối thấp, đóng góp vào tăng trưởng chưa cao”, GD Trần Văn Thọ nhận định.
Ông cũng lưu ý, giai đoạn dân số vàng của Việt Nam chỉ còn khoảng 7 - 8 năm. Kinh nghiệm của nhiều quốc gia cho thấy, trong giai đoạn dân số vàng, công nghiệp hóa phải tiến triển rất nhanh. Tuy nhiên, quá trình công nghiệp hóa của mình trong thời gian qua còn ở mức độ tương đối thấp.
Theo GS Trần Văn Thọ, trong cơ cấu GDP, sản xuất công nghiệp nên chiếm khoảng trên 30%, thậm chí có thể lên tới 35% ở giai đoạn cao nhất trước khi giảm dần khi nền kinh tế chuyển sang thời kỳ hậu công nghiệp. Trong khi đó, tỷ trọng này của Việt Nam hiện chưa tới 25%, dù giai đoạn dân số vàng đang dần khép lại.
Ông cho rằng công nghiệp là khu vực có khả năng tăng năng suất lao động nhanh nhất và dễ áp dụng công nghệ nhất. Trong khi đó, năng suất trong nông nghiệp và dịch vụ thường khó tăng mạnh hơn. Do đó, tỷ trọng công nghiệp còn thấp cũng đồng nghĩa với việc Việt Nam vẫn còn dư địa lớn để nâng cao năng suất nếu đẩy mạnh công nghiệp hóa.
Bên cạnh quy mô, GS Trần Văn Thọ cũng cho rằng chất lượng công nghiệp hóa của Việt Nam còn là vấn đề đáng quan tâm. Công nghiệp Việt Nam hiện vẫn chủ yếu dựa vào lắp ráp, gia công. Ngay cả trong các lĩnh vực xuất khẩu thế mạnh như dệt may, điện tử.
“Công nghiệp hóa của Việt Nam chưa sâu, còn mỏng, thành ra năng suất lao động thấp”, ông nói.
Từ thực tế đó, chuyên gia cho rằng Việt Nam cần đẩy mạnh công nghiệp hóa theo chiều sâu, phát triển sản xuất trong nước nhằm thay thế một phần hàng nhập khẩu từ Trung Quốc, Hàn Quốc và các thị trường khác. Nếu làm được điều này, nền kinh tế có thể đạt tốc độ tăng trưởng nhanh hơn.
Một hướng đi quan trọng khác là tăng cường hiệu ứng lan tỏa từ khu vực doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài sang khu vực doanh nghiệp trong nước. Hiện nay, nhiều doanh nghiệp nước ngoài đầu tư tại Việt Nam theo hình thức 100% vốn nước ngoài, ít liên doanh với doanh nghiệp trong nước. Tỷ lệ nội địa hóa trong nhiều ngành cũng còn thấp. Theo GS Trần Văn Thọ, Việt Nam cần thúc đẩy liên kết giữa doanh nghiệp trong nước và doanh nghiệp FDI, qua đó nâng cao năng suất và năng lực sản xuất nội địa.
Tuy nhiên, để làm được điều này, doanh nghiệp trong nước phải đủ mạnh. Ông cho rằng Nghị quyết 68 về phát triển kinh tế tư nhân cần được thực hiện triệt để, nhằm tạo điều kiện cho doanh nghiệp trong nước lớn mạnh hơn, đủ năng lực liên doanh, liên kết với các doanh nghiệp nước ngoài.
“Khả năng để Việt Nam tăng trưởng hai con số là có. Nhưng điều kiện là phải thực hiện tốt ba lĩnh vực: nâng cao năng suất tổng hợp, đẩy mạnh công nghiệp hóa theo chiều sâu và tăng cường liên kết giữa khu vực FDI với doanh nghiệp trong nước”, GS Trần Văn Thọ nhấn mạnh.
Theo ông, nếu các nghị quyết mới về khoa học công nghệ và phát triển kinh tế tư nhân được triển khai thực chất, Việt Nam có thể đạt tốc độ tăng trưởng cao trong thập niên 2030.
“Triển khai triệt để các nghị quyết mới ban hành, nhất là nghị quyết về khoa học công nghệ và Nghị quyết 68 về kinh tế tư nhân, trong thập niên 2030, Việt Nam có thể đạt tăng trưởng hai con số”, GS Trần Văn Thọ kết luận.
Đỗ Kiều

Vàng nhẫn giảm tới 600.000 đồng, về 151 triệu đồng/lượng, bằng vàng miếng
Những khoản thu nhập nào không phải nộp thuế?
Hàng chục nghìn tỷ đồng cổ tức chảy về túi cổ đông ngân hàng
Vốn hóa PNJ "bốc hơi" hơn 4.350 tỷ đồng sau vụ buôn lậu kim cương, lãnh đạo tính "cứu giá" cổ phiếu

Chờ đợi gì vào bất động sản trong nửa cuối năm?
Những giá trị không thể tái tạo của Đảo Ngọc khiến chủ nhân muốn gìn giữ qua nhiều thế hệ
Vĩnh Long trên hành trình trở thành cực tăng trưởng mới: Khi đô thị giữ vai trò dẫn dắt tăng trưởng
Rót tiền vào bất động sản lân cận TOD có chắc thắng?
Quy hoạch tổng thể Thủ đô Hà Nội tầm nhìn 100 năm
Tầm nhìn 100 năm với những mục tiêu phát triển đầy tham vọng là điểm nhấn của Quy hoạch tổng thể Thủ đô Hà Nội được công bố sáng 29/6.
Đừng bỏ lỡ
Giọt mắm chay và hành trình của những người không ngại khó
Sáu năm miệt mài nghiên cứu, hàng trăm lần thử nghiệm đã đưa sản phẩm nước mắm chay của HTX Sản xuất nấm sạch và Kinh doanh nông nghiệp Tuấn Linh (Quảng Trị) chinh phục Giải Mai An Tiêm năm 2026. Đằng sau giải thưởng là hành trình kiên trì đổi mới...


































