VnBusiness

VnBusiness

VnBusiness

Tiêu điểm

Giá hồ tiêu tăng nhưng lo hụt hơi: Dấu hỏi năng lực cây công nghiệp trọng điểm

Giá hồ tiêu tăng nhưng lo hụt hơi: Dấu hỏi năng lực cây công nghiệp trọng điểm

Đằng sau mức giá cao là mối lo hụt hơi với cây hồ tiêu Việt về sản lượng, chất lượng và khả năng đáp ứng tiêu chuẩn quốc tế. Điều này cũng đặt ra dấu hỏi năng lực với các cây công nghiệp trọng điểm như cà phê, cao su và điều.

Trong các ngày 3-5/3, các nhà nhập khẩu, tập đoàn gia vị toàn cầu, tổ chức quốc tế, doanh nghiệp (DN) sản xuất – xuất khẩu hồ tiêu, ngân hàng…quy tụ ở Đà Nẵng để tham dự hội nghị quốc tế ngành hàng hồ tiêu và gia vị Việt Nam 2026 (Vipo 2026).

Rủi ro nguồn cung hiện hữu

Hiệp hội Hồ tiêu và cây gia vị Việt Nam (VPSA) cho biết hội nghị lần này tập trung vào các chủ đề chiến lược của ngành hàng hồ tiêu trong giai đoạn mới. Cụ thể là bàn về triển vọng cung – cầu hồ tiêu và gia vị toàn cầu giai đoạn 2026-2030, xu hướng tiêu dùng tại EU, Mỹ, Trung Đông cũng như các tiêu chuẩn về truy xuất nguồn gốc và phát triển bền vững.

Các DN xuất khẩu cà phê đang chuyển dịch theo hướng nâng cao giá trị gia tăng thay vì phụ thuộc vào cà phê nhân thô.
Các DN xuất khẩu cà phê đang chuyển dịch theo hướng nâng cao giá trị gia tăng thay vì phụ thuộc vào cà phê nhân thô.

Ngành hồ tiêu hiện nay được cho là đang bước vào chu kỳ thuận lợi về giá. Tính đến hôm 2/3/2026, giá hồ tiêu tại các vùng chuyên canh Tây Nguyên và Đông Nam bộ ổn định, duy trì quanh mức 148.000 đồng/kg – mức cao so với nhiều năm gần đây.

Song song đó, xuất khẩu (XK) hồ tiêu của Việt Nam vẫn đang tăng trưởng trong 45 ngày đầu của năm 2026. Tính đến đầu năm ngày 15/2/2026, Việt Nam đã XK gần 31.200 tấn hồ tiêu, thu về 203,3 triệu USD, tăng 64,3% về lượng và 58,1% về giá trị so với cùng kỳ năm trước. 

Tuy vậy, dù giá tăng cao, XK tăng trưởng mạnh nhưng vẫn có những mối lo hụt hơi với ngành hồ tiêu Việt trong năm nay. Trước tiên là do mùa vụ thu hoạch 2026 gặp nhiều bất lợi về thời tiết nên sản lượng vụ tiêu năm nay được dự báo giảm khoảng 15 - 20% so với năm 2025.

Không chỉ vậy, áp lực tạo mất cân đối cung - cầu khiến cho ngành hồ tiêu Việt dễ hụt hơi. Nhất là khi sản lượng trong thời gian tới có thể tiếp tục suy giảm nếu không có giải pháp canh tác thích ứng, diện tích trồng tiêu khó mở rộng nhanh trước thời tiết cực đoan, biến đổi khí hậu khiến sâu bệnh gia tăng.

Một vấn đề khác là tỷ lệ chế biến sâu của ngành hồ tiêu. Như chia sẻ của bà Hoàng Thị Liên, Chủ tịch VPSA, hiện tỷ lệ này mới đạt khoảng 30%, với khoảng 30 DN đầu tư bài bản vào công nghệ. 

Con số này phản ánh năng lực chế biến sâu (như xay, nghiền, phối trộn…) trong ngành hồ tiêu vẫn còn khá khiêm tốn so với tiềm năng, còn lại phần lớn sản phẩm vẫn XK dưới dạng thô hoặc sơ chế cơ bản (làm sạch, phân loại, phơi sấy).

Mặt khác, áp lực tiêu chuẩn quốc tế tiếp tục là thách thức lớn với ngành hồ tiêu Việt. Các thị trường lớn như EU, Mỹ, Nhật Bản ngày càng siết chặt yêu cầu về dư lượng hóa chất, truy xuất nguồn gốc và tiêu chuẩn ESG (môi trường – xã hội – quản trị). Như thời gian qua ngành hồ tiêu Việt Nam đã nhận không ít cảnh báo về dư lượng thuốc bảo vệ thực vật từ EU.

Chính vì vậy, tại Vipo 2026, VPSA dự kiến ký kết Biên bản ghi nhớ hợp tác (MOU) với Chương trình Xúc tiến Nhập khẩu Thụy Sĩ (SIPPO). Điều này nhằm tăng cường hỗ trợ DN Việt nâng cao năng lực đáp ứng tiêu chuẩn thị trường EU, thúc đẩy phát triển bền vững và gia tăng giá trị XK.

Rõ ràng, thách thức hiện nay với ngành hồ tiêu Việt không còn nằm ở đầu ra trước mắt, mà ở khả năng duy trì chỗ đứng bền vững trên thị trường quốc tế.

Câu chuyện “giá cao nhưng sản lượng giảm” của hồ tiêu cũng phản ánh bài toán chung của các cây công nghiệp trọng điểm Việt Nam (như cà phê, cao su, điều). Đó là phụ thuộc lớn vào XK, biến đổi khí hậu tác động mạnh đến diện tích canh tác, tiêu chuẩn quốc tế ngày càng khắt khe, tỷ lệ chế biến sâu còn hạn chế.

Băn khoăn năng lực thích ứng dài hạn

Thực ra, nếu chỉ tận dụng chu kỳ giá cao mà không đầu tư bền vững, các cây công nghiệp trọng điểm này có thể hụt hơi trong trung và dài hạn. Ngược lại, nếu chuyển dịch mạnh sang mô hình sản xuất xanh, số hóa, truy xuất nguồn gốc và nâng cao giá trị gia tăng, hồ tiêu, cà phê, cao su và điều hoàn toàn có thể duy trì vị thế trên thị trường quốc tế.

Việc chuyển biến bằng cách nâng cao giá trị gia tăng cần nhìn nhận từ ngành cà phê Việt. Xét về tình hình XK cà phê, tính lũy kế từ đầu năm nay đến 15/2/2026 đã đạt 319 nghìn tấn, trị giá 1,53 tỷ USD, tăng mạnh so với cùng kỳ năm 2025.

Đáng chú ý, XK cà phê chế biến hồi tháng 1/2026 đạt 151,1 triệu USD,  tăng 29,5% so với tháng 1/2025. Mức tăng cao này cho thấy nhu cầu quốc tế đối với cà phê chế biến sâu tiếp tục duy trì tích cực. 

Như nhận định của Cục Xuất nhập khẩu (Bộ Công Thương), xu hướng này khẳng định cơ cấu xuất khẩu đang chuyển dịch theo hướng nâng cao giá trị gia tăng thay vì phụ thuộc vào cà phê nhân thô. Đây là tín hiệu tích cực cho chiến lược phát triển bền vững ngành cà phê

Trong khi đó, áp lực cạnh tranh, giữ thị phần trên thị trường XK trong thời gian tới là một thách thức với ngành cao su Việt Nam. Về XK, tính lũy kế đến giữa tháng 2/2026, XK cao su đạt 259.755 tấn, trị giá hơn 463 triệu USD, tăng mạnh 22,4% về lượng và tăng 15,9% về trị giá so với cùng kỳ năm 2025. Giá bình quân cao su XK trong giai đoạn này giảm 5,3% so với cùng kỳ năm 2025, xuống còn 1.783 USD/tấn.

Theo Cục Xuất nhập khẩu, XK cao su của Việt Nam trong năm 2026 được dự báo sẽ được hỗ trợ bởi tình trạng thiếu hụt nguồn cung toàn cầu, giá cả trên thị trường quốc tế đang có xu hướng phục hồi trở lại. Tuy nhiên, cạnh tranh trên thị trường sẽ gia tăng khi Bờ Biển Ngà được dự báo sẽ vượt qua Việt Nam để trở thành nước sản xuất lớn thứ ba thế giới, nhờ mở rộng diện tích trồng cao su bền vững và năng suất cao của các hộ tiểu điền.

Cần nhắc thêm, riêng tại thị trường EU, hồi năm 2025 nhập khẩu cao su từ Việt Nam ghi nhận mức giảm mạnh 21,2% về lượng và giảm 19,3% về trị giá, chỉ đạt 68.721 tấn, trị giá 122,9 triệu EUR. Với kết quả này, Việt Nam đứng thứ 10 trong các thị trường ngoại khối XK cao su vào EU, với thị phần thu hẹp từ 3,7% trong năm 2024 xuống còn 3,3% trong năm 2025.

Còn với với ngành hạt điều của Việt Nam. Tình hình XK hiện chưa có cập nhật trong tháng 2/2026. Nhưng tính riêng trong tháng 1/2026 thu về 347,03 triệu USD, giảm 25,69% về lượng, giảm 25,47% về trị giá so với tháng 12/2025, nhưng lại tăng 35,36% về lượng, tăng 36,48% về trị giá so với cùng kỳ năm 2025.

Theo PGS.TS Nguyễn Đình Thọ Viện Chiến lược, Chính sách Nông nghiệp và Môi trường (Bộ Nông nghiệp và Môi trường), trong 4 năm tới, chiến lược phát triển cho ngành hạt điều Việt Nam là cần tập trung chuyển đổi mô hình ngành từ gia công khối lượng lớn sang hệ sinh thái giá trị gia tăng cao. Nhất là đầu tư công nghệ chế biến sâu, bơ điều, sữa hạt điều, protein thực vật, nguyên liệu thực phẩm chức năng mở rộng nguồn thu. 

                                                                                          Thế Vinh

VnBusiness