VnBusiness

VnBusiness

VnBusiness

Tiêu điểm

‘Go global’ cho doanh nghiệp nông nghiệp bắt đầu từ con đường R&D

‘Go global’ cho doanh nghiệp nông nghiệp bắt đầu từ con đường R&D

Với các doanh nghiệp nông nghiệp ở Việt Nam, một trong những con đường khả thi để “Go global” (vươn ra toàn cầu) là bắt đầu từ Nghiên cứu và phát triển (R&D). Họ cần nghiên cứu kỹ yêu cầu của khách hàng quốc tế và giải quyết đúng nhu cầu của họ.

Đứng ở góc độ của một doanh nghiệp (DN) nội địa đang phát triển mô hình kinh tế nông nghiệp thông minh tích hợp, bà Đặng Huỳnh Ức My, Chủ tịch HĐQT CTCP Thành Thành Công – Biên Hòa (AgriS), cho biết thời gian qua công ty đã xây dựng mạng lưới R&D quốc tế, gồm bốn trung tâm và hub (trung tâm tập trung) nghiên cứu tại Việt Nam, Singapore, Indonesia, Australia. Điều này nhằm liên kết tri thức toàn cầu, đẩy mạnh nghiên cứu và thương mại hóa sản phẩm nông nghiệp xanh. 

Nghiên cứu kỹ yêu cầu của khách hàng quốc tế

Bà My dẫn chứng cụ thể từ việc hợp tác với Đại học Công nghệ Nanyang (NTU, Singapore), AgriS thành lập Trung tâm R&D tại Singapore. Trung tâm này là điểm giao thoa giữa tri thức khoa học và thực tiễn ứng dụng. 

Để có được sản phẩm chinh phục người mua toàn cầu đang cần các DN nông nghiệp của Việt Nam đầu tư nhiều hơn vào khâu R&D.
Để có được sản phẩm chinh phục người mua toàn cầu đang cần các DN nông nghiệp của Việt Nam đầu tư nhiều hơn vào khâu R&D.

“Ở Trung tâm R&D của công ty tại Singapore, các chuyên gia nghiên cứu việc lên men protein thực vật để gia tăng giá trị dinh dưỡng. Cùng với đó là ứng dụng công nghệ tiệt trùng áp suất cao (HPP) và UHT nhằm kéo dài thời hạn bảo quản mà vẫn giữ trọn hương vị. Trung tâm này cũng phát triển công thức dinh dưỡng tự nhiên chuyên biệt phù hợp từng nhóm khách hàng toàn cầu”, bà Đặng Huỳnh Ức My nói.

Còn với góc nhìn của một DN đang tập trung chế biến sâu rau quả để xuất khẩu đi nhiều quốc gia trên thế giới, ông Trần Phan Tế, Tổng giám đốc CTCP Lai Phú, nhấn mạnh để sản phẩm của công ty có mặt trên kệ siêu thị quốc tế đạt giá trị cao hơn và khối lượng bán nhiều hơn thì điều trước tiên là phải nghiên cứu rất kỹ yêu cầu của khách hàng quốc tế. 

Ông Trần Phan Tế dẫn chứng một thực tế như việc sản phẩm pudding (tráng miệng) của công ty không xuất phát từ ý tưởng nội bộ, mà từ “đề bài” của một khách hàng Nhật Bản đặt hàng pudding xoài và trái cây cho thị trường của họ. Công ty đã mất nhiều năm nghiên cứu, thử nghiệm và điều chỉnh trước khi giới thiệu sản phẩm ra thị trường quốc tế.

Thông qua dẫn chứng này, ông Tế muốn nói rằng R&D không chỉ là tự nghĩ ra sản phẩm khác biệt, mà quan trọng hơn là trực tiếp ra thị trường, gặp gỡ khách hàng và giải quyết đúng nhu cầu của họ. Khi đáp ứng được yêu cầu đó, kết hợp với lợi thế từ nông sản Việt Nam chất lượng, sản phẩm sẽ được khách hàng quốc tế đón nhận và ủng hộ.

Nói thêm về việc tổ chức R&D trong thực tế, ông Trần Phan Tế chỉ rõ từ những ngày đầu công ty đã đầu tư vào dây chuyền, thiết bị thí nghiệm, nghiên cứu. Bên cạnh đó là việc đầu tư vào con người, tìm kiếm cán bộ trình độ, nhiệt huyết, đam mê nghiên cứu để tìm giải pháp tốt nhất.

“Có những công thức khách đặt đề bài chỉ trong 1-2 tháng là giải quyết hoàn chỉnh, nhưng cũng có những đề bài phải bỏ ra vài ba năm để xây dựng công thức hoàn thiện. Nếu công thức chưa lý tưởng thì không giới thiệu ra khách hàng. Phải luôn ngẫm nghĩ, tìm tòi giải pháp, quy trình công nghệ, máy móc thiết bị phù hợp để tạo ra sản phẩm giá trị gia tăng cao và chất lượng ổn định”, ông Tế nói.

Hoặc như vấn đề chuyển đổi xanh để DN làm nông nghiệp có thể “Go global” theo yêu cầu của khách hàng quốc tế cũng cho thấy tầm quan trọng của R&D với mối liên kết giữa DN với các trường đại học và viện nghiên cứu. 

Tuy vậy, như băn khoăn của ông Nguyễn Đình Tùng, Chủ tịch HĐQT- Tổng Giám đốc Vina T&T Group, Phó chủ tịch Hiệp hội Rau Quả Việt Nam (Vinafruit), đó là còn những khó khăn trong việc kết nối nhu cầu DN với nghiên cứu của nhà trường, viện nghiên cứu.

Chẳng hạn, DN có những nhu cầu rất cụ thể, mang tính ứng dụng cao như: Kéo dài thời gian bảo quản sau thu hoạch, giảm phát thải carbon trong canh tác và logistics, ứng dụng công nghệ số trong truy xuất nguồn gốc, tối ưu chuỗi lạnh và logistics nông sản. 

Cần giải quyết những mặt hạn chế

Thế nhưng, trên thực tế, theo ông Tùng, có nhiều đề tài nghiên cứu của trường đại học và viện nghiên cứu còn thiên về học thuật, chưa bám sát nhu cầu thị trường. Thiếu cơ chế để DN đặt hàng nghiên cứu một cách chính thức, minh bạch và hiệu quả. Kết quả nghiên cứu sau khi hoàn thành khó đưa vào thương mại hóa do thiếu kinh phí thử nghiệm và cơ chế chuyển giao phù hợp. 

Chính vì thế, vị Phó chủ tịch Vinafruit mong rằng đối với các trường đại học và viện nghiên cứu nên định hướng nghiên cứu gắn với nhu cầu thực tiễn của DN và thị trường. Phát triển các trung tâm nghiên cứu - chuyển giao công nghệ gắn trực tiếp với DN. Thiết kế chương trình đào tạo theo mô hình “học - làm - nghiên cứu” tại DN. 

Còn đối với các DN làm nông nghiệp, ông Nguyễn Đình Tùng khuyến nghị cần chủ động tham gia hợp tác với các trường đại học và viện nghiên cứu, coi đầu tư cho khoa học - công nghệ và nguồn nhân lực là đầu tư chiến lược dài hạn. Các DN cần sẵn sàng chia sẻ dữ liệu, thực tiễn sản xuất để phục vụ nghiên cứu ứng dụng.

Từ những chia sẻ kể trên có thể thấy các DN làm nông nghiệp ở Việt Nam để có thể “Go global” thì không thể bỏ qua vấn đề R&D và cần xem đây là một trong những con đường khả thi nhất để bắt đầu.

Tuy nhiên, để bắt đầu từ R&D thì họ cần giải quyết những mặt hạn chế về nguồn lực, về tính liên kết với trường đại học và viện nghiên cứu. Như vấn đề nguồn nhân lực cho R&D vẫn là một thách thức lớn cho các DN làm nông nghiệp.

Trên thực tế, đội ngũ nhân lực R&D của các DN nông nghiệp ở Việt Nam hiện vẫn chưa đáp ứng đầy đủ yêu cầu của quá trình hội nhập quốc tế, cũng như những đòi hỏi ngày càng cao trong hoạt động thương mại hóa kết quả nghiên cứu.

Bên cạnh đó, không ít cán bộ nghiên cứu ở các trường đại học, viện nghiên cứu còn hạn chế về kỹ năng làm việc với DN nông nghiệp. Họ cũng thiếu tư duy thị trường toàn cầu, năng lực quản trị công nghệ và hiểu biết về sở hữu trí tuệ, khiến nhiều kết quả nghiên cứu khó được chuyển hóa thành sản phẩm, dịch vụ có giá trị vươn ra toàn cầu.

Đó là chưa kể một số sản phẩm nghiên cứu đã được xác định có tiềm năng thương mại hóa cho các DN nông nghiệp, song quá trình chuyển giao, ứng dụng vào sản xuất vẫn còn gặp khó khăn. Nguyên do là vì có sự khác biệt về mục tiêu, năng lực hấp thụ công nghệ của DN, cũng như các rào cản về cơ chế tài chính, sở hữu trí tuệ và chia sẻ lợi ích.  

Chung quy lại, nếu xác định R&D là một trong những con đường khả thi nhằm “Go global”, bắt buộc các DN nông nghiệp của Việt Nam phải tập trung nhiều hơn cho việc này, xem đây là điều kiện tiên quyết. Các mặt hạn chế sẽ cần được giải quyết và đầu tư cho R&D một cách bài bản hơn trong thời gian tới.

Thế Vinh

VnBusiness