
Dư địa lớn cải thiện cung ứng cho doanh nghiệp Nhật
Dưới góc nhìn của các doanh nghiệp Nhật Bản trong một cuộc thăm dò mới nhất, tỷ lệ nội địa hoá của Việt Nam đã tăng nhiều nhất trong số các các quốc gia được khảo sát. Dù tỷ lệ mua nguyên liệu, linh phụ kiện từ các doanh nghiệp Việt còn khiêm tốn nhưng vẫn có dư địa để cải thiện.
Trong nhiều năm tham gia chuỗi cung ứng cho hơn 100 khách hàng Nhật Bản, ông Đỗ Hoàng Trung, Chủ tịch HĐQT CTCP Kỹ thuật Ý Tưởng – một doanh nghiệp (DN) thuần Việt, cho biết nhu cầu cung ứng sản phẩm phụ trợ của các DN Nhật tại Việt Nam và tại thị trường Nhật hiện rất lớn.
"Thế nhưng, khả năng đáp ứng của các DN Việt vẫn còn rất thấp, từ giá thành cho đến kỹ thuật, cũng như sự cạnh tranh với các nhà nhập khẩu", ông Trung lưu ý.
Bước chuyển nội địa hoá
Khi được hỏi bí quyết gì giúp công ty nhiều năm liền làm nhà cung ứng cho các công ty Nhật, ông Trung cho biết thứ nhất là công ty chuyên làm việc với phía DN Nhật và họ biết nhiều về thương hiệu của mình. Thứ hai là sản phẩm cung ứng vừa đảm bảo kỹ thuật vừa mỹ quan, khách hàng Nhật an tâm về chất lượng.
"Điều quan trọng là mình làm theo đúng yêu cầu của họ thì mình sẽ bán được", ông Trung nói.
Tại buổi họp báo ngày 4/3 của Văn phòng Tổ chức Xúc tiến thương mại Nhật Bản (Jetro) tại Tp.HCM nhằm công bố thực trạng hoạt động của các DN Nhật đang đầu tư tại Việt Nam trong năm 2018, có nhận định sự biến chuyển về tỷ lệ mua nguyên liệu, linh phụ kiện của DN Nhật từ các DN Việt là 14,4%, vẫn còn có dư địa để cải thiện.
Về bước chuyển trong việc mua nguyên liệu, linh phụ kiện tại các quốc gia mà DN Nhật đầu tư như Trung Quốc, Thái Lan, Indonesia, Việt Nam, Malaysia, Philippines, phía Jetro cho biết, tỷ lệ nội địa của Việt Nam trong năm 2018 là 36,3%. So với năm 2017 tăng hơn 3%, Việt Nam tăng nhiều nhất trong các quốc gia thuộc nhóm khảo sát và lần đầu tiên vượt qua Malaysia.
Nếu so với 10 năm trước, tỷ lệ nội địa của Việt Nam trong mắt các nhà đầu tư Nhật đã tăng đến gần 13%, đã không còn là quốc gia có tỷ lệ nội địa thấp nhất trong số các quốc gia mà Jetro khảo sát.
"Chúng tôi cho rằng tỷ lệ cung ứng nội địa của Việt Nam tăng lên là do chiến lược công nghiệp hoá đòi hỏi nhiều thời gian. Tuy nhiên, nếu so với Trung Quốc, Thái Lan và Indonesia, tỷ lệ tăng này của Việt Nam vẫn là thấp nhưng cần thông cảm. Jetro cũng đang hợp tác Bộ KH&ĐT để gia tăng tỷ lệ này", ông Takimoto Koji, Trưởng đại diện Jetro tại Tp.HCM, chia sẻ.
Trên thực tế, tỷ lệ mua nguyên liệu, linh phụ kiện của DN Nhật tại Việt Nam tuy tương đối ổn định, nhưng so với các quốc gia khác, Việt Nam có tỷ lệ mua "từ các DN nước ngoài khác" lại cao. Phần cung ứng của DN ngoại và DN Nhật tại Việt Nam cho các công ty Nhật trong năm 2018 chiếm đến 60,3%.
Theo kết quả khảo sát mới nhất của Jetro, có đến 70% các DN Nhật tại Việt Nam có phương châm "mở rộng" hoạt động kinh doanh, so với các nước khác là tỷ lệ tương đối cao, thể hiện mong muốn mở rộng kinh doanh một cách mạnh mẽ.
Điều này cũng sẽ gia tăng thêm nhiều cơ hội cho các nhà cung cấp Việt Nam trong việc cung cấp linh kiện hay tham gia chuỗi cung ứng cho các DN Nhật.
Vẫn cần cải thiện nhiều
Điểm hạn chế cố hữu ở các DN cung ứng Việt mà nhiều DN Nhật thường hay phàn nàn là thời gian giao hàng còn chậm và chất lượng sản phẩm vẫn chưa thể đáp ứng được yêu cầu, hoặc có sai lệch trong lĩnh vực có thể cung ứng (như linh kiện điện và điện tử, xử lý bề mặt…).
Giới chuyên gia lưu ý các nhà cung ứng Việt, để có đủ điều kiện cần phải nâng cấp năng lực công nghệ bằng việc tiếp thu công nghệ mới, đầu tư dây chuyền sản xuất mới và vốn con người.
Tuy nhiên, trở ngại lớn nhất của các nhà cung ứng Việt – chẳng hạn như cung ứng linh phụ kiện cho các tập đoàn điện tử của Nhật, trong việc nâng cấp công nghệ không phải là số tiền đầu tư ban đầu, mà là lợi nhuận của dự án.
Với tốc độ thay đổi công nghệ nhanh chóng trong ngành điện tử của thế giới, vòng đời trung bình của một công nghệ mới là khoảng 10 năm. Do đó, lợi nhuận mà nhà cung ứng Việt thu được từ việc đầu tư vào công nghệ mới để cho ra sản phẩm đáp ứng yêu cầu của các công ty điện tử của Nhật cần đủ để trang trải các khấu hao đầu tư ban đầu.
Mặt khác, đơn cử như việc sản xuất ra các dòng sản phẩm mới trong robot công nghiệp như robot 3 trục, 6 trục, robot con nhện… để cung ứng cho các công ty Nhật, ông Đỗ Hoàng Trung cho biết do nguồn lực tài chính có hạn nên không thể sản xuất số lượng lớn, vì thế có mức giá tương đối cao.
Theo ông Trung, điều này khiến công ty rơi vào vòng luẩn quẩn: không giảm giá thành thì khó bán, nếu muốn sản xuất nhiều thì cần vốn lớn. Đây cũng chính là khó khăn của các nhà cung ứng Việt cho DN Nhật hiện nay.
"Điều đó đòi hỏi cần những chính sách hỗ trợ trực tiếp cho sản phẩm cung ứng. Nếu chính sách chỉ đứng từ xa thì không thể giúp nhiều cho DN. Chẳng hạn với sản xuất các sản phẩm robot công nghiệp thì linh kiện mua về cần ưu đãi thuế suất 0%, hoàn thuế giá trị gia tăng nhanh cho DN để có vốn lưu động và miễn thuế thu nhập cá nhân với lao động kỹ thuật cao", ông Trung đề xuất.
Thế Vinh

Tập đoàn thành viên của THACO hút 2.200 tỷ đồng qua kênh trái phiếu
Kênh đầu tư năm 2026: Thời kỳ “tiền đắt” và chiến lược phòng thủ lên ngôi
55% nhà đầu tư crypto Việt thua lỗ trong năm 2025

Thanh tra Chính phủ “tuýt còi” Panorama Nha Trang vì giao đất không đấu giá
Dự án Sunbay Park Hotel & Resort: Cấp sai 17 sổ đỏ, chưa nộp ngân sách hàng trăm tỷ
Lướt sóng chung cư rục rịch thoát hàng vì sợ 'bão lãi suất'?
Rục rịch rót tiền ‘đón sóng’ căn hộ ven vành đai
Hà Nội: Làng quất Tứ Liên chạy nước rút vào vụ Tết
Những ngày này, làng quất Tứ Liên bước vào quãng thời gian bận rộn nhất trong năm. Trên khắp các khu vườn, người trồng quất tất bật uốn cành, chỉnh thế, giữ dáng cho từng cây, chạy đua với thời gian để kịp đưa ra thị trường vào dịp Tết.
Đừng bỏ lỡ
Ba ba gai Cát Thịnh “mỏ vàng” mới từ kinh tế ao nuôi
Dưới những ao nuôi được kè bờ chắc chắn ở thôn Văn Hưng, xã Cát Thịnh, tỉnh Lào Cai, những con ba ba gai thương phẩm đang được HTX Chăn nuôi ba ba gai Cát Thịnh chăm sóc cẩn trọng. Mỗi con có giá từ 3 đến 5 triệu đồng, chưa kể hàng vạn con giống...






























