VnBusiness

VnBusiness

VnBusiness

Tiêu điểm

Xuất khẩu sang Mỹ năm 2026: Doanh nghiệp Việt tìm hướng đi giữa rào cản thuế quan

Xuất khẩu sang Mỹ năm 2026: Doanh nghiệp Việt tìm hướng đi giữa rào cản thuế quan

Thị trường Mỹ tiếp tục là động lực tăng trưởng quan trọng của xuất khẩu Việt Nam trong năm 2026, nhưng đi kèm là sức ép ngày càng lớn từ thuế quan và phòng vệ thương mại. Trước “màn sương mờ” rào cản, doanh nghiệp Việt buộc phải điều chỉnh chiến lược để giữ vững thị phần tại thị trường chủ lực này.

Nhận định mới đây về CTCP May Sông Hồng, Bộ phận phân tích thuộc Công ty chứng khoán Asean cho rằng triển vọng đơn hàng vẫn phụ thuộc lớn vào thị trường Mỹ (chiếm 90% doanh thu). Tuy nhiên, tại Mỹ, tiêu thụ quần áo năm 2026 ổn định nhưng khó tăng mạnh, do thuế nhập khẩu cao ảnh hưởng đến sức mua. Thêm nữa rủi ro thuế quan dưới chính quyền Trump tiếp tục là “biến số” quan trọng cần theo dõi.

Từ “biến số” của dệt may

Còn với một nhà xuất khẩu (XK) dệt may khác là CTCP thương mại và đầu tư TNG, được dự đoán sẽ có tăng trưởng lợi nhuận trong năm 2026 nhờ hưởng lợi tại thị trường Mỹ từ xu hướng dịch chuyển đơn hàng khỏi Trung Quốc do thuế XK quần áo của Trung Quốc vào Mỹ cao gấp 2 lần Việt Nam.

Các DN Việt Nam cần linh hoạt đàm phán với nhà thu mua của Mỹ để giảm thiểu tác động tiêu cực từ rào cản thương mại.
Các DN Việt Nam cần linh hoạt đàm phán với nhà thu mua của Mỹ để giảm thiểu tác động tiêu cực từ rào cản thương mại.

Không chỉ hai doanh nghiệp (DN) nêu trên, xét về triển vọng năm 2026 của ngành dệt may Việt Nam, theo Bộ phận phân tích thuộc Công ty chứng khoán Asean, XK sang Mỹ sẽ là động lực tăng trưởng chính. Kim ngạch XK dệt may năm 2026 được dự phóng sẽ đạt 43 tỷ USD (tăng 8% so với năm 2025) với sự dẫn dắt tăng trưởng từ XK sang Mỹ (dự báo đạt 19,7 tỷ USD, tăng 9% so với năm 2025) nhờ nhu cầu tiêu dùng tăng trưởng và dịch chuyển đơn hàng từ Trung Quốc sang Việt Nam.

Tuy nhiên, thách thức vẫn luôn rình rập ngành hàng này với rủi ro từ chính sách thuế quan biến động tại thị trường lớn như Mỹ. Việc Mỹ siết chặt điều tra xuất xứ và áp dụng thuế phòng vệ cũng có thể ảnh hưởng trực tiếp đến XK trong năm 2026.

Hàng dệt may Việt Nam có rủi ro bị coi là Transhiping (chuyển tải) khi phần lớn nguyên liệu là nhập khẩu, theo đó có thể bị chịu thuế lên tới 40%, gấp đôi so với thuế nhập khẩu hàng dệt may trung bình vào Mỹ.

Như lưu ý của bà Corinna Joyce, một chuyên gia về quản trị DN thời trang tại Đại học RMIT, ngành dệt may Việt Nam phụ thuộc rất nhiều vào nguyên liệu nhập khẩu từ Trung Quốc và Hàn Quốc. Tính phụ thuộc này làm gia tăng những thách thức liên quan đến việc tuân thủ các quy định về nguồn gốc xuất xứ của Mỹ. Trong một số trường hợp, hàng hóa có nguyên liệu đầu vào từ Trung Quốc có thể bị coi là hàng hóa “trung chuyển”, phải chịu mức thuế cao hơn (lên tới 40%), từ đó càng đe dọa sự ổn định và lợi nhuận của ngành.

Xét về hướng đi để duy trì khả năng cạnh tranh của mặt hàng dệt may Việt Nam tại Mỹ trong bối cảnh mới, chuyên gia từ RMIT khuyến nghị cần thích ứng với thuế quan của Mỹ để khởi sắc vào năm 2026. Bên cạnh đó là sự nỗ lực của toàn ngành dệt may, các nhà máy cần đầu tư vào máy móc hiện đại, giảm thiểu chi phí. Việc này bao gồm đa dạng hóa sản phẩm, số hóa hoạt động.

Đơn cử như việc đa dạng hóa sản phẩm cao được cho sẽ tiếp tục giúp các DN dệt may Việt Nam duy trì lợi thế cạnh tranh tại Mỹ. Thực tế cho thấy ngành dệt may Việt hiện sở hữu năng lực sản xuất đa dạng, gần tiệm cận với Trung Quốc, với khả năng cắt may các sản phẩm từ đơn giản đến phức tạp.

Khi đánh giá tổng thể các yếu tố tác động lên ngành dệt may, Việt Nam, Trung Quốc và Ấn Độ đạt điểm số tương đương (trong khoảng 25 điểm). Tuy nhiên, xét về mức độ đa dạng sản phẩm, Việt Nam gần tương đồng với với Trung Quốc và vượt trội hơn nhóm Bangladesh, Ấn Độ. Do đó khi đơn hàng dịch chuyển từ Trung Quốc sang Mỹ, Việt Nam được kỳ vọng hưởng lợi nhiều nhất.

Đến siết chặt phòng vệ thương mại

Ngoài ngành dệt may, việc chọn hướng đi phù hợp để duy trì khả năng cạnh cho hàng Việt tại Mỹ trong năm 2026 lại càng cấp thiết hơn bao giờ, nhất là trong bối cảnh thị trường này đang bước vào giai đoạn siết chặt phòng vệ thương mại cùng với nút thắt về thuế quan.

Chẳng hạn với các nhà XK tôm của Việt Nam. Theo Hiệp hội Chế biến và XK thủy sản (Vasep), thị trường Mỹ đang bước vào giai đoạn siết chặt phòng vệ thương mại (PVTM) trên diện rộng, tác động mạnh đến các ngành hàng XK chủ lực của Việt Nam, trong đó có tôm. Năm 2026 DN sẽ phải đối mặt với nhiều thách thức. DN cần chuẩn bị tốt hệ thống dữ liệu, kiểm soát rủi ro và minh bạch thông tin sẽ có cơ hội giữ vững thị trường và tận dụng những khoảng trống từ biến động nguồn cung quốc tế. 

 Như khuyến nghị của Vasep, trong bối cảnh các biện pháp PVTM ngày càng siết chặt, việc chủ động chuẩn hóa dữ liệu, minh bạch hồ sơ và nâng cao quản trị tuân thủ được coi là giải pháp thiết yếu giúp DN giảm rủi ro pháp lý, duy trì niềm tin với nhà nhập khẩu và tạo lợi thế cạnh tranh lâu dài.

Những dự báo cho thấy bức tranh XK tôm quý I/2026 sẽ không quá sáng sủa khi đối mặt rủi ro thuế chống bán phá giá từ Mỹ, là yếu tố có ảnh hưởng lớn nhất đến triển vọng thị trường. Chính vì vậy các DN cần chủ động ứng phó. Nhất là chủ động làm việc với nhà nhập khẩu Mỹ để thống nhất quy trình cung cấp dữ liệu, hỗ trợ kiểm tra hồ sơ và xây dựng phương án chia sẻ rủi ro.

Sức ép gia tăng từ các đòn PVTM của Mỹ là điều mà các nhà XK của Việt Nam nên lưu tâm và tính toán hướng đi hợp lý trong thời gian tới. Như cảnh báo của bà Trương Thị Thùy Linh, Phó cục trưởng Cục PVTM (Bộ Công Thương), thuế PVTM sẽ tiếp tục được phía Hoa Kỳ ưu tiên vì không gây tranh cãi nhiều  như thuế đối ứng.

“Thuế phòng vệ thương mại sẽ tiếp tục được phía Hoa Kỳ ưu tiên vì không bị tranh cãi như thuế đối ứng”, bà Trương Thị Thùy Linh, Phó cục trưởng Cục Phòng vệ thương mại (Bộ Công Thương).

Hơn nữa, thuế PVTM có thể được áp rất cao, đặc biệt là trong trường hợp Việt Nam chưa được công nhận là nền kinh tế thị trường, nên phía Hoa Kỳ sẽ không sử dụng dữ liệu của Việt Nam mà sẽ dùng dữ liệu của quốc gia khác, làm cho mức thuế có thể tăng lên rất cao.

Và khác với mức thuế ở Mục 232 (một điều khoản trong Đạo luật Mở rộng Thương mại của Hoa Kỳ) hay thuế đối ứng, theo bà Linh, đối với mặt hàng nào bị áp thuế PVTM vẫn sẽ bị cộng với thuế đối ứng hay mức thuế theo Mục 232. Như vậy khiến cho mức thuế sẽ tăng lên rất nhiều.

Như chia sẻ của vị Phó cục trưởng Cục PVTM, thời gian áp dụng thuế PVTM ở Mỹ rất dài và mỗi năm rà soát một lần, càng làm khả năng tăng mức thuế PVTM lên cao. Đó là chưa kể việc áp dụng nhiều biện pháp thuế cùng lúc, như thuế chống bán phá giá, chống trợ cấp và thuế tự vệ.

Chung quy, mặc dù thị trường Mỹ có thể sẽ tiếp tục là động lực tăng trưởng cho nhiều nhà XK của Việt Nam trong năm 2026 nhưng rủi ro vẫn ngày càng lớn trước “màn sương mờ” rào cản của Mỹ. Thuế chồng thuế khiến chi phí tuân thủ và giá bán thực tế tăng cao, buộc các DN Việt phải điều chỉnh chiến lược XK, linh hoạt đàm phán với nhà nhập khẩu Mỹ, cũng như nâng cao vị thế chuỗi giá trị nhằm giữ vững thị trường chủ lực này.

                                                                                                                                                                                   Thế Vinh

}
VnBusiness