VnBusiness

VnBusiness

VnBusiness

Việt Nam

Nông nghiệp hữu cơ vẫn lo ế

Nông nghiệp hữu cơ vẫn lo ế

Thời gian gần đây, diện tích nông nghiệp hữu cơ ngày càng được mở rộng, song vấn đề ổn định đầu ra luôn là mối lo của nhiều doanh nghiệp, nông dân. Thực tế, người tiêu dùng trong nước vẫn chưa mặn mà với sản phẩm hữu cơ vì giá bán khá cao, trong khi doanh nghiệp muốn xuất khẩu cũng không dễ xin các chứng nhận hữu cơ quốc tế.

Sau khi Chính phủ ban hành Nghị định 109/2018/ NĐ-CP về nông nghiệp hữu cơ, mảng nông nghiệp hữu cơ đã và đang thu hút đông đảo doanh nghiệp (DN) tham gia, diện tích sản xuất mở rộng trông thấy.

Thấp thỏm đầu ra

Theo ông Hà Phúc Mịch, Chủ tịch Hiệp hội Nông nghiệp hữu cơ Việt Nam, diện tích nông nghiệp hữu cơ đang được mở rộng, tới cuối năm 2018 ước đạt gần 12.000ha sản xuất, trong khi trước đó một năm chỉ có khoảng 8.000ha.

Không chỉ gia tăng diện tích sản xuất, các sản phẩm nông nghiệp hữu cơ cũng ngày càng đa dạng như quế, gừng, tỏi, chè, gạo, sữa, điều…

Tuy nhiên, ông Mịch bày tỏ lo ngại khi nông nghiệp hữu cơ vẫn là ngành hàng "non trẻ", đầu ra bấp bênh.

Về xúc tiến đầu ra trên thị trường thế giới, năm 2018, lần đầu tiên Hiệp hội Nông nghiệp hữu cơ cùng Hiệp hội Chè Việt Nam tổ chức đoàn gồm 7 DN đi tham gia một hội chợ về nông nghiệp hữu cơ ở Đức, nhưng để đẩy mạnh xuất khẩu (XK) cần phải cố gắng nhiều hơn.

Trong khi đó, ở thị trường trong nước, một số tỉnh có tổ chức hội chợ về nông nghiệp hữu cơ nhưng quy mô nhỏ, lẻ tẻ. Một số cửa hàng, siêu thị ở Hà Nội, Tp.HCM bày bán các sản phẩm rau quả hữu cơ nhưng giá tương đối cao so với sản phẩm cùng loại nên khó cạnh tranh, chưa kể người tiêu dùng còn chưa thật sự tin cậy vì thiếu thông tin xác thực và chưa được chứng nhận của bên thứ ba.

Đến nay, thị trường thực phẩm hữu cơ tại Việt Nam vẫn còn rất mới, các hoạt động áp dụng và chứng nhận phù hợp với các tiêu chuẩn hữu cơ, công bố, gắn nhãn sản phẩm hữu cơ… gần như chưa được điều chỉnh bởi các văn bản pháp quy do các cơ quan quản lý nhà nước ban hành.

Bên cạnh đó, các hoạt động sản xuất, chế biến theo phương pháp hữu cơ còn khá manh mún, tự phát, thiếu định hướng, thiếu kiểm soát.

Ông Vũ Nam Thái, người sáng lập mô hình góp vốn sản xuất rau, thịt hữu cơ (trang trại 7A), cho hay nhu cầu thực phẩm hữu cơ là có thật nhưng thị trường khá nhỏ, tăng trưởng chậm hơn so với số người tham gia. Hiện nay, có nhiều chủ vườn nhỏ đang bắt đầu làm hữu cơ, chưa lấy được chứng nhận nên phải cạnh tranh gay gắt để bán sản phẩm vào các cửa hàng thực phẩm chọn lọc.

Ở phương diện nhà phân phối, đại diện một siêu thị cho biết rất quan tâm tới sản phẩm hữu cơ nhưng chưa thể xúc tiến đưa hàng vào hệ thống phân phối. Nguyên nhân là do người tiêu dùng sẵn sàng chi trả cho thực phẩm hữu cơ nhưng đòi hỏi đó phải là hữu cơ đích thực, được kiểm soát chặt trong quá trình trồng trọt, vận chuyển và phân phối. Điều đó cho thấy phải gây dựng được lòng tin của người tiêu dùng thì mới bán được hàng.

Bởi vậy, thị trường nông nghiệp hữu cơ đang xảy ra nghịch lý là người tiêu dùng rất muốn mua sản phẩm hữu cơ, sản phẩm an toàn cho sức khỏe nhưng không biết mua ở đâu, trong khi sản xuất nông nghiệp hữu cơ hiện nay quy mô còn rất nhỏ nhưng vẫn khó tìm thị trường.

Ông Nguyễn Lâm Viên, Chủ tịch HĐQT kiêm Tổng Giám đốc CTCP Vinamit, cho rằng muốn xác lập được vị trí và tạo sự tin cậy trong lòng khách hàng, nhà kinh doanh sản phẩm hữu cơ cần ít nhất ba năm tiếp thị quảng cáo liên tục, cho khách hàng tự trải nghiệm. Phải làm thật, bảo đảm chất lượng thật và chứng minh cho khách hàng thấy để "đóng dấu" thương hiệu, từ đó ổn định và mở rộng đầu ra.

Sản phẩm nông nghiệp hữu cơ khó cạnh tranh vì giá bán cao
Sản phẩm nông nghiệp hữu cơ khó cạnh tranh vì giá bán cao

Xuất khẩu khó khăn

Tiêu thụ ở thị trường trong nước khó khăn, sản phẩm nông nghiệp hữu cơ muốn XK càng không dễ dàng. Ông Nguyễn Văn Tuân, CTCP nông nghiệp Thế Hệ Mới (Hải Dương), cho hay DN này là đơn vị tiên phong trồng lúa hữu cơ trên vùng khai thác đặc sản bãi rươi. Gạo hữu cơ bãi rươi đã xuất hiện trên thị trường trong nước một vài năm gần đây, từng bước hướng tới mục tiêu XK.

Sắp tới, công ty Thế Hệ Mới dự tính mở rộng diện tích sản xuất gạo hữu cơ bãi rươi lên 1.000ha. Tuy nhiên, hiện nay khó khăn nhất của DN là quảng bá giới thiệu sản phẩm, xây dựng thương hiệu, thiết kế bao bì, nhãn mác. Đây chính là điểm yếu đang cản đường gạo hữu cơ xuất ngoại.

Là DN đang XK sản phẩm hoa hồi và quế sang thị trường EU, bà Nguyễn Thị Huyền, Giám đốc CTCP sản xuất Quế Hồi Việt Nam (Vinasamex), cho biết DN này phải bỏ ra khoản chi phí gần 4 tỷ đồng để xin chứng nhận hữu cơ quốc tế. Nguyên nhân là do Việt Nam chưa có đơn vị nào chứng nhận. Với mức chi phí này, không phải DN Việt Nam nào cũng có thể có đủ tiềm lực để xin cấp chứng chỉ.

Bên cạnh đó, việc thực hiện chứng nhận chỉ dẫn địa lý cho sản phẩm nông nghiệp hữu cơ còn nhiều khó khăn, chi phí bảo hộ thương hiệu sản phẩm ở nước ngoài quá cao nên DN nhỏ không gánh nổi. Vì vậy, tuy nhu cầu tiêu dùng sản phẩm hữu cơ trên thế giới rất lớn, là cơ hội để DN Việt Nam đẩy mạnh XK nhưng chính DN lại khó nắm bắt.

Ông Vũ Bá Phú, Cục trưởng Cục Xúc tiến thương mại (Bộ Công Thương), đánh giá ngành hữu cơ Việt Nam rất tiềm năng vì xu hướng tiêu dùng thế giới đang ưa chuộng sản phẩm hữu cơ. Tuy nhiên, đẩy mạnh các hoạt động xúc tiến thương mại cho nông sản hữu cơ không chỉ là hoạt động tham gia hội chợ.

Vì vậy, Hiệp hội Nông nghiệp hữu cơ cần đề xuất đề án, chương trình xúc tiến thương mại nâng cao năng lực cho DN kinh doanh, sản xuất hữu cơ. Hỗ trợ cho DN, trang trại đạt chứng chỉ, quy trình hữu cơ quốc tế.

"Nếu DN cứ chăm chăm đi hội chợ quốc tế mà không trang bị các chứng chỉ, nâng cao chất lượng sản phẩm thì chỉ ném tiền qua cửa sổ. DN non trẻ chưa có khái niệm hữu cơ mà đi tham gia hội chợ, hội thảo chắc chắn sẽ không hiệu quả", ông Phú nhấn mạnh.

Ông Nguyễn Quốc Toản, quyền Cục trưởng Cục Chế biến và Phát triển thị trường nông sản, cho biết Bộ NN&PTNT đang gấp rút hoàn thành thông tư hướng dẫn về sản xuất, tiêu chuẩn đánh giá về sản phẩm nông nghiệp hữu cơ…

Trong đó, tập trung tăng cường hiệu quả của truyền thông cho cả người sản xuất và sử dụng sản phẩm nông nghiệp hữu cơ; tiến hành đồng bộ các giải pháp: đất đai, công nghệ sinh học, đa dạng hóa sinh học và môi trường sinh thái bền vững.

Bên cạnh đó, Bộ NN&PTNT cũng triển khai nhiều biện pháp khuyến khích sản xuất sản phẩm hữu cơ đạt tiêu chuẩn, có chứng nhận nhưng vẫn phải bảo đảm an ninh lương thực quốc gia trên cơ sở điều kiện thổ nhưỡng, chọn sản xuất sản phẩm bản địa đặc sản, kiên quyết không phát triển tràn lan; đẩy mạnh hợp tác quốc tế, tích cực học hỏi các nước có nền sản xuất nông nghiệp hữu cơ tiên tiến… Tất cả đều phải có bước đi, lộ trình phù hợp, cụ thể.

Lê Thúy

Gs. Nguyễn Ngọc Kính - Nguyên Vụ trưởng Vụ KH-CN và Chất lượng sản phẩm (Bộ NN&PTNT)

Chỉ làm nông nghiệp hữu cơ theo đơn đặt hàng của nước ngoài hoặc của các siêu thị, DN trong nước để tránh sản xuất theo phong trào, đến khi sản phẩm hữu cơ làm ra không có nơi tiêu thụ sẽ gây thiệt hại cho nông dân, DN. Mặt khác, sản phẩm có giá thành và giá bán rất cao so với sản phẩm an toàn và sạch khác, do vậy cần phải có giải pháp để giảm các loại chi phí này.

Bà Phạm Phương Thảo - Giám đốc CTCP Thương mại dịch vụ Mùa (Tp.HCM)

Để DN có thêm động lực, ngoài việc giải quyết nguồn vốn, sức tiêu thụ của thị trường, Bộ NN&PTNT cần có cơ chế chính sách quản lý hợp lý từ nguồn giống đến quy chuẩn đất, nguồn vật tư đầu vào như các loại phân hữu cơ, nguồn gốc vi sinh sử dụng khi sản xuất, quy cách bao bì, truy xuất nguồn gốc và cả khâu chứng nhận, tránh sự thiếu chặt chẽ và chậm trễ trong các thủ tục chứng nhận gây ách tắc cho DN.

Ts. Phạm S - Phó Chủ tịch UBND tỉnh Lâm Đồng

Người tiêu dùng Việt Nam vẫn chưa tin tưởng và ít có điều kiện phân biệt sản phẩm hữu cơ với các sản phẩm thông thường khác. Do đó, nhu cầu thị trường dù cao nhưng sản phẩm hữu cơ vẫn khó tiêu thụ, chỉ các đơn vị có đầy đủ các chứng nhận hợp lệ mới có thể đứng vững trên thị trường.

VnBusiness