Nâng tầm đặc sản vùng cao, tạo sinh kế bền vững cho đồng bào
Từ những sản phẩm gắn với điều kiện tự nhiên và văn hóa bản địa, nhiều đặc sản vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi đang được chuẩn hóa để nâng giá trị và mở rộng thị trường. Đây không chỉ là câu chuyện đưa hàng hóa đi xa, mà còn là hướng phát huy lợi thế địa phương, tạo việc làm, nâng thu nhập và góp phần phát triển sinh kế bền vững cho người dân vùng cao.
Hành trình đưa miến dong Tài Hoan từ vùng nguyên liệu ở Thái Nguyên sang Cộng hòa Séc hay cà phê Gia Lai xuất hiện tại hội chợ ở Milan, cho thấy đặc sản vùng cao Việt Nam có nhiều cơ hội để khẳng định thương hiệu và mở rộng thị trường. Song, để có thể đi xa, sản phẩm cần được chuẩn hóa thành hàng hóa có khả năng cạnh tranh, nhiều hơn là một sản phẩm ngon thuần tuý.
Dư địa lớn từ lợi thế bản địa
Tại tọa đàm “Đưa đặc sản vùng cao vươn ra thế giới - Từ lợi thế bản địa đến thương hiệu quốc tế” ngày 14/9, các chuyên gia nhận định xu hướng tiêu dùng quốc tế đang ngày càng coi trọng chất lượng, nguồn gốc, tính tự nhiên và yếu tố bền vững. Đây là cơ hội để nông sản, đặc sản của vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi mở rộng thị trường nếu được tổ chức sản xuất phù hợp.
Theo ông Nguyễn Minh Tiến, Giám đốc Trung tâm Xúc tiến thương mại Nông nghiệp (Bộ Nông nghiệp và Môi trường), sản phẩm vùng đồng bào dân tộc thiểu số có nhiều lợi thế từ điều kiện tự nhiên đa dạng, tính xanh, tự nhiên, giá trị dinh dưỡng, cùng tri thức bản địa và bản sắc văn hóa cộng đồng. Nếu khai thác tốt những yếu tố này, sản phẩm có thể tạo sự khác biệt, nâng giá trị gia tăng và sức cạnh tranh.
Thực tế thời gian qua, các chương trình như OCOP, sản phẩm công nghiệp nông thôn tiêu biểu đã góp phần cải thiện chất lượng, mẫu mã, bao bì và khả năng thương mại hóa của nhiều đặc sản địa phương.
Miến dong Tài Hoan là một trong những trường hợp cho thấy quá trình chuyển từ sản phẩm truyền thống sang hàng hóa xuất khẩu. Từ nghề sản xuất của đồng bào Tày, Nùng, HTX Miến dong Tài Hoan từng bước xây dựng vùng nguyên liệu, liên kết với người dân, đầu tư nhà xưởng, máy móc và kiểm soát quy trình sản xuất.
Đến nay, HTX đã hình thành vùng nguyên liệu khoảng 70 ha, liên kết với 700 hộ dân, từng bước xây dựng chuỗi sản xuất từ nguyên liệu đến thành phẩm.
Thông qua các chương trình xúc tiến thương mại, sản phẩm đã xuất khẩu sang Cộng hòa Séc, ngoài ra miến dong Tài Hoan còn tiếp cận thị trường Mỹ, Australia và Hàn Quốc.
Theo bà Minh Anh, đại diện HTX Miến dong Tài Hoan, đằng sau kết quả này là quá trình chuẩn bị kéo dài. “Đơn vị mất hơn một năm để gửi mẫu kiểm nghiệm, kiểm tra dư lượng, hoàn thiện bao bì, nhãn mác và thực hiện các thủ tục xuất nhập khẩu. Khó khăn lớn nhất là một sản phẩm truyền thống phải đáp ứng đồng thời yêu cầu rất cao về chất lượng, an toàn, truy xuất nguồn gốc của thị trường quốc tế”, bà Minh Anh chia sẻ.
Đặc biệt, việc đạt chứng nhận OCOP 5 sao quốc gia năm 2021, được công nhận lại năm 2024, cùng cùng các tiêu chuẩn an toàn thực phẩm đã trở thành "tấm hộ chiếu" quan trọng giúp sản phẩm của HTX tạo niềm tin với đối tác quốc tế.
Tương tự câu chuyện miến dong, sản phẩm trà Shan tuyết của Công ty chè và đặc sản Tây Bắc, tỉnh Sơn La cũng là một ví dụ. Những cây trà cổ thụ hàng trăm năm tuổi có sản lượng không lớn nhưng gắn với tri thức canh tác, lịch sử và đời sống văn hóa của đồng bào dân tộc thiểu số. Nếu được định vị đúng ở các phân khúc thị trường ngách, quà tặng hoặc sản phẩm cao cấp, những giá trị này có thể trở thành yếu tố gia tăng giá trị thương mại.
Qua đó cho thấy, lợi thế của đặc sản không chỉ nằm ở hương vị hay câu chuyện văn hóa, mà cần được chuyển hóa thành quy trình sản xuất có thể kiểm soát và chứng minh.
Chuẩn hóa để thu hẹp khoảng cách xuất khẩu
Theo các chuyên gia, từ một sản phẩm truyền thống đến hàng hóa xuất khẩu vẫn là một khoảng cách đáng kể, đặc biệt đối với các hợp tác xã, doanh nghiệp nhỏ và siêu nhỏ.
Ông Tô Hoài Nam, Phó Chủ tịch Thường trực kiêm Tổng Thư ký Hiệp hội Doanh nghiệp nhỏ và vừa Việt Nam, cho rằng không ít doanh nghiệp có sản phẩm tốt nhưng năng lực xuất khẩu chưa tương xứng. Điểm nghẽn nằm ở tổ chức sản xuất, đáp ứng tiêu chuẩn, truy xuất nguồn gốc, xây dựng thương hiệu và phát triển hệ thống phân phối quốc tế.
Theo ông Nam, những lợi thế về điều kiện tự nhiên, giống, phương thức sản xuất hay giá trị văn hóa chỉ trở thành giá trị thương mại khi được đặt trong một quy trình có khả năng kiểm soát, đo lường và chứng minh. Cùng với đó là yêu cầu ứng dụng công nghệ, kiểm nghiệm chất lượng và kiểm soát toàn bộ chuỗi.
Đối với doanh nghiệp nhỏ và hợp tác xã, hạn chế về vốn, công nghệ, nhân lực và thông tin thị trường khiến nhiều đơn vị phải tự đảm nhiệm phần lớn các khâu. Vì vậy, ông Tô Hoài Nam đề xuất phân loại doanh nghiệp theo mức độ sẵn sàng xuất khẩu để có chính sách hỗ trợ phù hợp.
Theo hướng này, doanh nghiệp đã đủ điều kiện cần được hỗ trợ tiếp cận thị trường; nhóm mới đáp ứng yêu cầu cơ bản cần tiếp tục nâng chuẩn; trong khi nhóm chưa sẵn sàng cần có lộ trình hoàn thiện năng lực. Hỗ trợ cũng cần tập trung vào thông tin thị trường, nâng cao năng lực doanh nghiệp, kết nối nguồn lực tài chính, công nghệ và dịch vụ hỗ trợ.
Ở góc độ xúc tiến thương mại, cách tiếp cận cũng đang được mở rộng từ giới thiệu sản phẩm sang xây dựng hệ sinh thái hỗ trợ doanh nghiệp tiếp cận thị trường quốc tế.
Theo ông Nguyễn Minh Tiến, các chương trình OCOP và sản phẩm công nghiệp nông thôn tiêu biểu đã tạo nền tảng để chuẩn hóa chất lượng, mẫu mã, bao bì cho nhiều sản phẩm truyền thống. Năm 2024, lần đầu tiên Bộ Nông nghiệp và Môi trường mở “Không gian OCOP Việt Nam” tại Hội chợ bán lẻ và thủ công mỹ nghệ tại Milan (Italy). Nhiều sản phẩm OCOP 3, 4, 5 sao như càphê hữu cơ Gia Lai, trà Shan tuyết, trái cây... đã nhận được tín hiệu tích cực từ người tiêu dùng quốc tế. Chương trình tiếp tục được triển khai trong năm 2025 và 2026.
Đáng chú ý, ngày 6/4/2026, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 626/QĐ-TTg phê duyệt Chương trình “Vươn ra thị trường quốc tế giai đoạn 2026-2030” (GoGlobal).
Theo ông Tiến, điểm mới của GoGlobal là chuyển từ hoạt động xúc tiến đơn lẻ như tham gia hội chợ, triển lãm hay kết nối cung cầu sang xây dựng hệ sinh thái hỗ trợ theo nhóm sản phẩm, địa phương và ngành hàng.
Cách làm này hướng tới việc đưa sản phẩm ra thị trường cùng với câu chuyện về nguồn gốc, văn hóa và giá trị bản địa. Theo ông Tiến, thay vì chỉ trưng bày và bán hàng, các hoạt động xúc tiến có thể kết hợp trình diễn, quảng bá văn hóa và kể câu chuyện về sản phẩm, qua đó tạo nhận diện và giá trị khác biệt cho hàng hóa Việt Nam.
Do đó, các chuyên gia khẳng định, khi lợi thế bản địa được chuyển hóa thành vùng nguyên liệu ổn định, quy trình sản xuất kiểm soát được, thương hiệu đủ sức cạnh tranh và hệ thống phân phối phù hợp, đặc sản vùng cao mới có thể bước ra khỏi thị trường địa phương để tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị toàn cầu. Khi đó, giá trị của một sản phẩm không chỉ nằm ở doanh thu xuất khẩu, mà còn ở khả năng tạo sinh kế, nâng thu nhập và giữ gìn những giá trị văn hóa bản địa tại chính vùng sản xuất.
Hồng Hương
Cận cảnh iPhone 18 Pro Max vừa ra mắt: Pin 45 giờ, camera xịn xò và... 'giá chát'
Apple vừa chính thức ra mắt iPhone 18 Pro và iPhone 18 Pro Max tại sự kiện “Surprise and shine” diễn ra lúc 0h ngày 10/9 theo giờ Việt Nam, với loạt nâng cấp đáng chú ý về hiệu năng, pin và camera.
Đừng bỏ lỡ
Phương Di Bee: Những người phụ nữ đánh thức giá trị từ đàn ong
Từ những đàn ong giữa đại ngàn Tây Nguyên, HTX Mật ong Phương Di Bee (tỉnh Gia Lai) đang từng bước nâng tầm giá trị mật ong bằng liên kết, đổi mới sáng tạo và chế biến sâu. Năm 2026, những nỗ lực ấy tiếp tục được ghi nhận khi HTX được trao Giải...


























