Từ sinh kế nhỏ lẻ đến làm ăn bài bản ở vùng đồng bào dân tộc miền núi
Chọn cỡ chữ
Từ sinh kế nhỏ lẻ đến làm ăn bài bản ở vùng đồng bào dân tộc miền núi
Từ những hộ nuôi vài con dê, trồng vài hécta rừng đến những vườn ươm hàng chục vạn cây giống, sinh kế của đồng bào dân tộc thiểu số có thể thay đổi khi sản xuất nhỏ lẻ được kết nối. Hợp tác xã, tổ hợp tác đang trở thành những “hạt nhân” giúp người dân có việc làm, có thị trường và từng bước tạo dựng sinh kế bền vững ngay trên quê hương.
Từ 8 con dê nhân lên thành đàn 50 con, trồng rừng, nuôi ngựa đến đi làm thuê để tích vốn, nhiều thanh niên dân tộc thiểu số đang tự tìm đường phát triển kinh tế ngay trên quê hương. Nhưng khi sản xuất vẫn bó hẹp trong từng hộ, thiếu liên kết và thị trường, nỗ lực cá nhân rất khó tạo thành sinh kế bền vững.
Khi nỗ lực thoát nghèo vẫn quanh quẩn trong từng hộ
Xã Quan Sơn, tỉnh Lạng Sơn là địa bàn miền núi, nơi đồng bào Tày, Nùng và người Kinh cùng sinh sống, với địa hình chủ yếu là đồi núi xen thung lũng, ở độ cao từ 300 đến 700 m. Năm 2025, tỷ lệ hộ nghèo đa chiều của xã vẫn ở mức 17,29%, trong đó hộ nghèo chiếm 11,83%.
Trước sức ép về việc làm và thu nhập, không ít lao động trẻ rời quê đến các khu công nghiệp ở Bắc Ninh, Bắc Giang tìm việc. Nhưng cũng có những thanh niên lựa chọn ở lại, tận dụng đất đai, rừng và điều kiện sản xuất sẵn có để tự tạo sinh kế.
Từ những đàn dê ban đầu chỉ vài con, diện tích rừng của gia đình hay mô hình chăn nuôi nhỏ, họ từng bước tích lũy vốn và mở rộng sản xuất. Tuy nhiên, khi mỗi hộ vẫn phải tự lo từ vốn, kỹ thuật đến đầu ra, điểm nghẽn không hẳn nằm ở ý chí vươn lên, mà ở việc những nỗ lực riêng lẻ chưa được kết nối thành một mô hình kinh tế đủ lớn.
Anh Vi Văn Tự, sinh năm 1996, ở thôn Suối Cái, bắt đầu nuôi dê thương phẩm từ năm 2020 với vỏn vẹn 8 con. Sau 6 năm, đàn dê đã tăng lên 50 con, mang lại thu nhập khoảng 80 đến 100 triệu đồng mỗi năm. Có nguồn thu ổn định, anh đang tính toán tiếp tục mở rộng đàn.
Anh Vi Văn Tự, thôn Suối Cái, xã Quan Sơn (Lạng Sơn)
Cũng lựa chọn ở lại quê lập nghiệp nhưng anh Nguyễn Văn Tính, sinh năm 2003, ở thôn Nà Lìa lại kết hợp trồng khoảng 30 ha rừng với nuôi 8 con ngựa. Những ngày đầu thiếu vốn, anh đi làm công ty để dành tiền đầu tư. Đến nay, Tính vẫn duy trì cách làm ấy. Khi rảnh việc rừng, anh đi làm thuê một, hai tháng rồi trở về chăm sóc, bón phân. Riêng vụ vừa qua, việc bán một phần sản lượng rừng mang về cho anh khoảng 400 đến 500 triệu đồng.
Những con số cho thấy người trẻ ở vùng cao hoàn toàn có thể tạo sinh kế và thu nhập ngay trên quê hương. Nhưng cả hai trường hợp vẫn chủ yếu dựa vào nguồn lực của từng hộ. Muốn mở rộng sản xuất, câu chuyện vốn nhanh chóng trở thành một trong những trở ngại lớn.
Theo anh Nông Văn Tuấn, Phó Chủ tịch Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam xã, kiêm Bí thư Đoàn xã Quan Sơn, thanh niên địa phương hiện chủ yếu tiếp cận nguồn vay từ Ngân hàng Chính sách xã hội với hạn mức tối đa 100 triệu đồng. Trong khi đó, chưa có kênh vốn lớn hơn để những mô hình đang có hiệu quả có thể mở rộng thành sản xuất hàng hóa và tạo thêm việc làm tại chỗ.
Anh Nông Văn Tuấn, Phó Chủ tịch Ủy ban MTTQ Việt Nam xã, Bí thư Đoàn xã Quan Sơn (Lạng Sơn)
Khoảng trống ở đây không phải là người dân vùng cao thiếu ý chí làm ăn. Điều họ còn thiếu là nguồn lực và một cách tổ chức đủ sức đưa những nỗ lực riêng lẻ vượt ra khỏi quy mô của từng hộ gia đình.
Từ một vườn ươm nhỏ đến hợp tác xã 8 thành viên
Một cách đi khác đang hình thành tại xã Cốc San, tỉnh Lào Cai. Ở thôn Củm Hạ 1, nơi đồng bào dân tộc thiểu số chiếm gần 62% trong tổng số khoảng 11.000 người của xã, anh Phạm Văn Quyết, hiện là Bí thư Chi bộ thôn, cũng khởi đầu từ một mô hình kinh tế hộ.
Năm 2018, anh Quyết chỉ có 500 m² vườn ươm, mỗi năm cung cấp khoảng 12 vạn cây quế giống. Quy mô không lớn và hoạt động sản xuất về cơ bản vẫn dựa vào nguồn lực của gia đình.
Vườn ươm cây giống của anh Phạm Văn Quyết, thôn Củm Hạ 1, xã Cốc San (Lào Cai)
Bước ngoặt đến vào năm 2021, khi thay vì tiếp tục mở rộng một mình, anh Quyết thành lập hợp tác xã cây giống và vận động những hộ sản xuất nhỏ lẻ xung quanh cùng tham gia. Từ chỗ mỗi nhà tự sản xuất, tự tìm đầu ra, những hộ nhỏ bắt đầu được tập hợp trong một mô hình chung.
Từ 4 thành viên ban đầu, sau hai năm, hợp tác xã đã tăng lên 8 thành viên, với diện tích sản xuất khoảng 12.000 m². Mỗi năm, đơn vị cung ứng khoảng 50 vạn cây quế giống cho người trồng rừng trong vùng và các địa phương lân cận, gấp hơn bốn lần sản lượng khi anh Quyết còn sản xuất ở quy mô hộ gia đình.
Từ năm 2023 đến nay, doanh thu bình quân của hợp tác xã đạt trên 1,2 tỷ đồng mỗi năm, lợi nhuận khoảng 450 triệu đồng. Đáng chú ý, quy mô sản xuất mở rộng cũng tạo việc làm thường xuyên cho 6 lao động địa phương, với thu nhập từ 6 đến 8 triệu đồng/người/tháng, cùng 12 đến 15 lao động thời vụ vào những giai đoạn cao điểm.
Từ một vườn ươm 500 m² của một hộ gia đình đến hợp tác xã 8 thành viên, sản xuất trên 12.000 m², sự thay đổi không chỉ nằm ở số cây giống hay doanh thu. Khi những hộ nhỏ liên kết lại, một mô hình sinh kế cá nhân đã từng bước mở rộng thành nơi tạo việc làm và thu nhập cho nhiều lao động địa phương.
Điều đáng chú ý là những câu chuyện ở Cốc San và Quan Sơn diễn ra trong bối cảnh bài toán việc làm, sinh kế cho vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi đang được đặt ra ở cấp quốc gia.
Ngày 12/8/2026, Phó Thủ tướng Phạm Thị Thanh Trà ký Quyết định số 1538/QĐ-TTg, ban hành Kế hoạch triển khai kết luận của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm về nâng cao chất lượng nguồn lao động và tạo việc làm bền vững ở nông thôn, đô thị và vùng đồng bào dân tộc thiểu số. Kế hoạch đề ra 5 nhóm nhiệm vụ, giải pháp, trong đó yêu cầu tạo việc làm tại vùng đồng bào dân tộc thiểu số gắn với phát huy nội lực, giảm nghèo bền vững và bảo tồn, phát huy bản sắc văn hóa.
Một bước đi cụ thể hơn đang được Bộ Dân tộc và Tôn giáo chuẩn bị. Bộ đang xây dựng dự thảo Đề án “Tạo việc làm, phát triển dịch vụ, kết nối lao động trong vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2026–2035”.
Theo Thứ trưởng Nông Thị Hà, Đề án hướng tới hình thành hệ sinh thái tạo việc làm bền vững, lấy người dân làm chủ thể và khai thác lợi thế của từng địa phương. Dự thảo dự kiến triển khai trong hai giai đoạn 2026–2030 và 2031–2035, tập trung vào ba nhóm nhiệm vụ gồm phát triển kinh tế địa phương để tạo việc làm bền vững, nâng cao chất lượng lao động và phát triển, kết nối các dịch vụ việc làm.
Thực tế ở Quan Sơn và Cốc San cho thấy, tạo việc làm mới chỉ là một phần của bài toán. Điều người dân cần là vốn, kỹ năng, thị trường và sự liên kết để những sinh kế nhỏ có thể lớn lên ngay trên quê hương.
Thực tế ở Quan Sơn và Cốc San cho thấy khoảng cách từ một mô hình sinh kế hiệu quả đến sản xuất quy mô lớn vẫn còn khá xa. Một thanh niên có thể tự gây dựng đàn 50 con dê hay trồng 30 ha rừng, nhưng khi muốn mở rộng sản xuất, thuê thêm lao động, huy động nguồn vốn lớn hơn hoặc tìm đầu ra ổn định, khả năng của một hộ riêng lẻ sẽ dần chạm giới hạn.
Câu chuyện của anh Phạm Văn Quyết gợi ra một hướng đi khác. Từ vườn ươm 500 m², việc liên kết các hộ sản xuất trong hợp tác xã đã giúp quy mô tăng lên 12.000 m², sản lượng đạt khoảng 50 vạn cây giống mỗi năm và tạo thêm việc làm tại chỗ. Vấn đề đặt ra là làm sao để những liên kết như vậy có thêm điều kiện phát triển, nhất là về vốn, kỹ thuật và thị trường, thay vì phụ thuộc chủ yếu vào khả năng tự xoay xở của từng hộ.
Từng là một trong những huyện vùng cao đặc biệt khó khăn của tỉnh Lai Châu, nhưng những năm gần đây, Nậm Nhùn đã có những bước chuyển mình mạnh mẽ nhờ triển khai hàng loạt mô hình kinh tế liên kết tại các xã có đông đồng bào dân tộc thiểu số sinh sống.
Từ một huyện nghèo thuộc diện đặc biệt khó khăn của tỉnh Điện Biên, Nậm Pồ đang dần thay da đổi thịt khi người dân, đặc biệt là đồng bào dân tộc thiểu số mạnh dạn tiếp cận công nghệ thông tin, thương mại điện tử để sản xuất và tiêu thụ nông sản.
Không còn là miền đất của đói nghèo và biệt lập, nhiều vùng đồng bào dân tộc thiểu số miền núi tỉnh Bắc Kạn giờ đây đang trở thành hình mẫu về khát vọng vươn lên nhờ ứng dụng công nghệ thông tin và thương mại điện tử vào sản xuất, với HTX là cầu nối.
Giữa vùng cao biên giới Sìn Hồ (tỉnh Lai Châu) quanh năm mây mù bao phủ, ít ai nghĩ rằng nơi đây lại đang âm thầm diễn ra một cuộc “cách mạng nông nghiệp” với trung tâm là đồng bào dân tộc thiểu số.
Giữa đại ngàn Việt Bắc, huyện Võ Nhai (tỉnh Thái Nguyên) đang từng bước chuyển mình mạnh mẽ nhờ chuyển đổi cơ cấu cây trồng, ứng dụng công nghệ thông tin, thương mại điện tử và đặc biệt là sự “bứt phá” của các HTX có đông thành viên là đồng bào dân tộc thiểu số.
Liên minh HTX Việt Nam và Tổ chức Lao động Quốc tế triển khai chương trình hỗ trợ 356 hộ gia đình tại hai xã Xuân Thượng và Xuân Hòa, tỉnh Lào Cai, với tổng kinh phí gần 1,5 tỷ đồng. Chương trình giúp khôi phục sản xuất, sửa chữa nhà cửa và nâng cao khả năng ứng phó với thiên tai, hướng tới phát triển bền vững cho đồng bào dân tộc miền núi sau cơn bão Yagi.
Apple vừa chính thức ra mắt iPhone 18 Pro và iPhone 18 Pro Max tại sự kiện “Surprise and shine” diễn ra lúc 0h ngày 10/9 theo giờ Việt Nam, với loạt nâng cấp đáng chú ý về hiệu năng, pin và camera.
Từ những đàn ong giữa đại ngàn Tây Nguyên, HTX Mật ong Phương Di Bee (tỉnh Gia Lai) đang từng bước nâng tầm giá trị mật ong bằng liên kết, đổi mới sáng tạo và chế biến sâu. Năm 2026, những nỗ lực ấy tiếp tục được ghi nhận khi HTX được trao Giải...