
“Bắt mạch” doanh nghiệp tư nhân
Năm 2011 có 54.198 doanh nghiệp (DN) ngừng hoạt động, tới năm 2015 là 80.858 DN. Trong giai đoạn 2007 – 2015, bình quân số DN giải thể hoặc ngừng hoạt động chiếm hơn 45% tổng số DN còn hoạt động ở nền kinh tế. Năm 2016, số DN ngừng hoạt động giảm xuống khoảng 73.000 DN, song 6 tháng đầu năm nay, có tới 43.350 DN từ bỏ kinh doanh.
Những con số trên phần nào phản ánh “sức khỏe” của khu vực kinh tế tư nhân thời gian vừa qua, đó là tình trạng quy mô có xu hướng nhỏ dần, phát triển manh mún, năng lực tài chính yếu, hiệu quả sinh lời thấp….
Ts. Hoàng Xuân Hòa, Vụ trưởng Vụ Kinh tế tổng hợp, Ban Kinh tế Trung ương, đánh giá DN tư nhân còn gặp nhiều khó khăn với quy mô có xu hướng nhỏ dần, trình độ công nghệ chậm đổi mới nên năng suất, chất lượng sản phẩm và sức cạnh tranh thấp.
Quy mô ngày càng nhỏ
Số lượng DN tư nhân tăng hằng năm nhưng phần lớn có quy mô vừa, nhỏ và siêu nhỏ, trên 90% có mức vốn dưới 1 tỷ đồng. DN có quy mô vừa và lớn luôn chiếm một tỷ trọng nhỏ, đặc biệt trong lĩnh vực chế biến – chế tạo và có xu hướng giảm đi.
Năm 2014, chỉ có 1,82% DN có quy mô vừa và 2,07% DN có quy mô lớn, tập trung vào các tập đoàn kinh tế tư nhân và các DN tư nhân hoạt động chủ yếu trong lĩnh vực bất động sản.
Trong khi đó, quy mô lao động bình quân của các DN ngoài nhà nước đã giảm từ 27 lao động năm 2007 xuống còn 18 lao động năm 2015 và diễn ra ở hầu hết các ngành, rõ nét nhất là trong các ngành thâm dụng lao động như: nông – lâm nghiệp và thủy sản, công nghiệp khai mỏ, công nghiệp chế biến, xây dựng, vận tải kho bãi, thông tin và truyền thông.
“Việc quy mô lao động bình quân trong các ngành này giảm đáng kể trong giai đoạn 2007 – 2015 cho thấy những DN ngoài nhà nước gặp nhiều khó khăn, không thể khai thác lợi thế về nguồn lao động như trước đây; trong khi đó, trình độ công nghệ, thiết bị và máy móc chưa được đổi mới trong các ngành này”, Ts. Hòa nhận định.
Hiện có 5% DN tư nhân sử dụng các công cụ cầm tay trong hoạt động sản xuất; gần 84% DN sử dụng các thiết bị, máy móc có tuổi dưới 10 năm, trong số đó, khoảng 74% công nghệ được mua mới nhưng ở mức trung bình.
Mức đầu tư cho đổi mới thiết bị công nghệ của DN trong nước chỉ chiếm 3% doanh thu cả năm. Đa số DN sử dụng công nghệ của những năm 80 của thế kỷ trước.
Cùng với đó, các DN tư nhân phát triển còn manh mún, thiếu tính ổn định, không bền vững, số lượng việc làm mới tạo ra giảm mạnh; đóng góp không nhiều trong cơ cấu tổng thu ngân sách nhà nước hằng năm.
“Sức khỏe” DN tư nhân còn yếu để chống chọi với “sóng to, gió lớn” từ hội nhập
Đóng góp của kinh tế tư nhân trong tăng trưởng yếu tố tổng hợp (TFP) cũng tương đối thấp, không ổn định. Đóng góp của TFP chung trong toàn nền kinh tế chỉ đạt 11,9%, –4,5% và 29% lần lượt trong các giai đoạn 2001 – 2005, 2006 – 2010 và 2011 – 2015.
Theo Ts. Hòa, năng lực tài chính của các DN tư nhân còn yếu, khả năng tiếp cận nguồn vốn thấp ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động.
Thiếu tiềm lực tài chính
Phần lớn DN tư nhân thiếu vốn, tốc độ tăng trưởng về nguồn vốn thấp, thiếu ổn định, trong giai đoạn 2007 – 2015, tốc độ tăng trưởng nguồn vốn đạt mức bình quân khoảng 1%/năm; chủ yếu dựa vào nguồn vốn tự có để đầu tư đổi mới thiết bị công nghệ, uy tín thấp, thiếu khả năng tài chính và năng lực quản lý, kinh doanh để tiếp cận đầy đủ các nguồn tín dụng, vốn trực tiếp từ thị trường chứng khoán.
Nhiều DN không có tài sản để thế chấp vay vốn tín dụng, hạn chế khả năng phát triển mở rộng, chiếm lĩnh thị trường, sản xuất kinh doanh cầm chừng, nhiều DN đăng ký kinh doanh nhưng không hoạt động.
Theo báo cáo Việt Nam 2035, khoảng 96% DN ngoài nhà nước ở Việt Nam là DN nhỏ và vừa (SME), trong đó DN tư nhân chiếm tỷ trọng lớn, có thể tiếp cận vốn đầu tư từ hệ thống tài chính – ngân hàng chính thức rất thấp, chỉ gần 32% SME có thể tiếp cận tín dụng.
Đến năm 2009, khoảng 36,5% DN nhỏ (với 5 – 19 lao động) có hạn mức tín dụng tại một tổ chức tài chính; tỷ lệ cho toàn bộ DN cũng chỉ khoảng 50%. Thực tế này không được cải thiện cho tới cuối năm 2014 khi 70% SME được khảo sát cho biết gặp khó khăn trong tiếp cận vốn tín dụng.
Hiện tại, dư nợ tín dụng cho khu vực SME vào khoảng 20% tổng dư nợ toàn nền kinh tế. Do đó, hiệu quả sử dụng nguồn vốn, năng lực sinh lợi, doanh thu của các DN tư nhân thiếu tính ổn định và có chiều hướng sụt giảm.
Giai đoạn 2007 – 2014 chứng kiến việc các DN hoạt động dựa nhiều vào những khoản nợ (nợ nhà cung cấp, các khoản vay tài chính…). Chỉ số nợ của các DN đã luôn lớn hơn giá trị kỳ vọng chuẩn.
Chỉ số nợ của các DN ngoài quốc doanh đã liên tục tăng trong giai đoạn 2007 – 2011, nhất là năm 2011, chỉ số nợ của các DN này tăng mạnh đạt 2,3 lần, sau đó giảm trong ba năm 2012 – 2014 xuống còn 1,9 lần.
Ngoài ra, chỉ số quay vòng vốn của DN ngoài quốc doanh cao nhất, ở mức 2,2 lần trong giai đoạn 2007 – 2008, năm 2009 giảm còn khoảng 1,5 lần và tính chung trong giai đoạn 2007 – 2014, thấp nhất, còn khoảng 1,4 lần.
Như vậy, “việc tăng, giảm chỉ số nợ và chỉ số quay vòng vốn cho thấy nguồn vốn của DN tư nhân không ổn định trong tiếp cận nguồn vốn vay và hiệu quả sử dụng, hoạt động chủ yếu dựa vào nguồn vốn tự có và số lượng DN tư nhân giải thể hoặc ngừng hoạt động tăng”, Ts.Hòa nhận xét.
Khi được hỏi đâu là khó khăn nhất, DN cho rằng mấu chốt vẫn là thực thi chính sách. Ông Đậu Anh Tuấn, Trưởng ban Pháp chế Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI), cho biết, qua nhiều lần tiếp xúc với các DN nhỏ và vừa, các DN đều cho rằng không cần hỗ trợ gì cả, cơ quan quản lý chỉ cần tạo chính sách tốt, tạo điều kiện cho các thủ tục hành chính nhanh gọn là tốt rồi.
Ông Tuấn nhấn mạnh: “Các chính sách hỗ trợ phải tốt. Tốt trên thực tế chứ không chỉ tốt trên văn bản, trên quy định”.
Liên quan tới vấn đề DN thành lập nhiều nhưng cũng “khai tử” nhiều, Văn phòng Chính phủ vừa có văn bản gửi Bộ Kế hoạch và Đầu tư về việc xử lý hiện tượng DN thành lập nhiều nhưng cũng bị “khai tử” nhiều có nguyên nhân từ điều kiện kinh doanh gây khó khăn, cộng với quyền hành xử của cơ quan thực thi, tạo ra chi phí lớn, khiến DN không thể vượt qua.
Lê Thúy
PGs. Ts. Nguyễn Hồng Sơn - Phó Giám đốc Đại học Quốc gia Hà Nội Đã có sự phát triển không ngừng nhưng khu vực kinh tế tư nhân ở Việt Nam vẫn chưa phát huy được hết tiềm năng của mình để thực sự đóng vai trò là động lực quan trọng của nền kinh tế. Nguyên nhân chính dẫn đến tình trạng này là do khu vực này vẫn phải đối mặt với nhiều rào cản về tư duy lý luận lẫn khuôn khổ pháp luật, điều tiết, cơ chế chính sách và thực thi trên thực tế cũng như môi trường kinh doanh cùng năng lực cạnh tranh. Ts. Võ Thị Vân Khánh - Học viện Tài chính Xây dựng, triển khai các công cụ quản lý và hỗ trợ mới đối với khu vực kinh tế tư nhân, chuyển từ mục đích “quản chặt” sang “hỗ trợ” DN bằng định hướng chính sách, thông tin thị trường và những khuyến khích tài chính, cũng như tinh thần theo ngành, sản phẩm, địa bàn… mà không theo từng DN, dự án cụ thể hoặc tính chất sở hữu. Ts. Hoàng Xuân Hòa - Vụ trưởng Vụ Kinh tế tổng hợp, Ban Kinh tế Trung ương Bảo đảm các cơ chế, chính sách khuyến khích, hỗ trợ phát triển kinh tế tư nhân phù hợp với cơ chế thị trường và thúc đẩy tính tự chủ, cạnh tranh của kinh tế tư nhân; không biến các cơ chế, chính sách hỗ trợ phát triển kinh tế tư nhân thành bao cấp, phục vụ “lợi ích nhóm” dưới mọi hình thức. Không biến việc chấp thuận, xác nhận, chứng nhận đáp ứng các điều kiện, tiêu chuẩn chuyên môn kỹ thuật thành giấy phép con, gây cản trở hoạt động của kinh tế tư nhân. Có như vậy, kinh tế tư nhân mới phát triển. |

Tập đoàn thành viên của THACO hút 2.200 tỷ đồng qua kênh trái phiếu
Kênh đầu tư năm 2026: Thời kỳ “tiền đắt” và chiến lược phòng thủ lên ngôi
55% nhà đầu tư crypto Việt thua lỗ trong năm 2025

Thanh tra Chính phủ “tuýt còi” Panorama Nha Trang vì giao đất không đấu giá
Dự án Sunbay Park Hotel & Resort: Cấp sai 17 sổ đỏ, chưa nộp ngân sách hàng trăm tỷ
Lướt sóng chung cư rục rịch thoát hàng vì sợ 'bão lãi suất'?
Rục rịch rót tiền ‘đón sóng’ căn hộ ven vành đai
Hà Nội: Làng quất Tứ Liên chạy nước rút vào vụ Tết
Những ngày này, làng quất Tứ Liên bước vào quãng thời gian bận rộn nhất trong năm. Trên khắp các khu vườn, người trồng quất tất bật uốn cành, chỉnh thế, giữ dáng cho từng cây, chạy đua với thời gian để kịp đưa ra thị trường vào dịp Tết.
Đừng bỏ lỡ
Ba ba gai Cát Thịnh “mỏ vàng” mới từ kinh tế ao nuôi
Dưới những ao nuôi được kè bờ chắc chắn ở thôn Văn Hưng, xã Cát Thịnh, tỉnh Lào Cai, những con ba ba gai thương phẩm đang được HTX Chăn nuôi ba ba gai Cát Thịnh chăm sóc cẩn trọng. Mỗi con có giá từ 3 đến 5 triệu đồng, chưa kể hàng vạn con giống...






























