
Tồn 12 triệu tấn than theo định mức
Theo báo cáo của Tổng cục Hải quan, 8 tháng đầu năm 2016, Việt Nam đã nhập khẩu hơn 9,7 triệu tấn than, trong khi đó, ngành than cũng đang tồn kho 12 triệu tấn. Đại diện ngành than khẳng định, số lượng tồn kho đang ở mức được Nhà nước giao.
Tại Tọa đàm trực tuyến với chủ đề "Nhập khẩu than và bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia" do Cổng TTĐT Chính phủ tổ chức sáng 24/10, ông Nguyễn Văn Biên, Phó Tổng giám đốc Tập đoàn công nghiệp Than-Khoáng sản Việt Nam (TKV) cho biết: “Ngành Than lúc nào cũng có lượng than tồn kho dự trữ để đảm bảo an toàn năng lượng Quốc gia. Đấy là định mức tồn kho, được Nhà nước giao, và ngành Than phải đảm bảo được định mức an toàn.”.
Cũng theo ông Biên, hiện ngành than đang tồn kho có hai loại đó là than sạch và than bán thành phẩm, tức là than chưa được làm sạch, chưa được chế biến. Than bán thành phẩm chiếm gần 2 triệu tấn trong tổng số tồn kho gần 12 triệu tấn của ngành than. “Như vậy, lượng than tồn kho hiện nay cao hơn mức than tồn kho định mức gần 4 triệu tấn. Và trong 4 triệu tấn này, thì khoảng một nửa là than bán thành phẩm.”, ông Biên giải thích.
Ngành than đang tồn kho 12 triệu tấn
Lý giải cho nguyên nhân vì sao than trong nước lại có giá cao hơn than nhập khẩu, ông Biên giải thích: do lượng than lộ thiên không còn nhiều, phải đào sâu xuống lòng đất mới có than, từ đó chi phí đầu tư tăng lên. Chi phí an toàn mỏ, khí hậu, môi trường cho chính bản thân ngành Than cũng phải tăng lên. Dù vậy, ngành Than vẫn cố gắng giảm giá thành xuống thấp.
“Nếu Việt Nam phải đào 11 m3 đất đá thì mới có than thì Inđônêxia chỉ cần đào từ 3-5m3 đất đá. Ngoài ra trình độ khai thác cơ giới hóa của nước ta thấp hơn nhiều so với các nước khác. Đây chính là những nguyên nhân là đội giá thành sản phẩm so với các nước xuất khẩu than khác trên thế giới”.
Cụ thể, 9 tháng đầu năm nay, giá than giảm được 1,5% so với cùng kỳ năm trước. Trong khi đó giá than trên thế giới có xu hướng tăng. Theo ông Biên, hiện giá than nhập khẩu và giá than trong nước đã gần tiệm cận. Ông Biên đánh giá, mức chênh lệch này sẽ duy trì trong thời gian ngắn hạn.
Hiện nay, riêng thuế, phí và VAT, mỗi tấn than trong nước phải “gánh” 25% trong giá thành. 20 đến 30% là chi phí khai thác; 17% chi phí bảo hiểm xã hộ và trả tiền lương; chi phí khác chiếm 3 đến 4%... Như vậy, thì lợi nhuận còn lại không nhiều.
Cụ thể, ở Việt Nam, than hầm lò bị đánh thuế 12%, than lộ thiên 14%, trong khi đó ở các nước xung quanh như ở Indonesia chỉ đánh thuế từ 7 đến 10% mà thôi.
Nhập khẩu than là con đường duy nhất để đáp ứng nhu cầu cho sản xuất điện những năm tới, tuy nhiên vấn đề này hiện đang đứng trước nhiều khó khăn, như việc xác định nguồn cung đến từ đâu, chính sách cho nhập khẩu, làm thế nào cân đối cung - cầu trong và ngoài nước, tháo gỡ khó khăn cho Tập đoàn Công nghiệp Than - khoáng sản Việt Nam theo ý kiến chỉ đạo của Phó Thủ tướng Trịnh Đình Dũng.
Thanh Hoa

Nghịch lý nông sản Việt: Xuất khẩu dễ, bán trong nước lại khó
Hà Nội đặt mục tiêu nâng tầm hợp tác xã trong kỷ nguyên số
Chuỗi lâm nghiệp và khoảng trống giá trị gia tăng

Vì sao startup Việt dễ “đứt gánh giữa đường”?
‘Mỏ vàng’ AI của startup Việt đối diện bài toán cạnh tranh ngày càng gay gắt
Khởi nghiệp xanh 2026: Bài toán mới cho startup khi chuyển từ "bán nông sản sang bán giá trị"
Chế biến sâu nông sản, 9X Nghệ An biến rau củ thành sản phẩm giá trị cao
Có gì đặc biệt tại ‘siêu dự án’ Trục không gian Quốc lộ 1A hơn 161.000 tỷ đồng có sự tham gia của VinGroup?
Hội đồng nhân dân thành phố Hà Nội vừa thông qua Nghị quyết phê duyệt chủ trương đầu tư dự án Trục không gian Quốc lộ 1A, với tổng mức đầu tư dự kiến hơn 161.000 tỷ đồng.
Đừng bỏ lỡ
Bánh tráng Đại Lộc: Từ hương vị truyền thống đến hành trình vươn xa
Từ một món ăn dân dã, “Bánh tráng Đại Lộc” của HTX Nông nghiệp Ái Nghĩa đang từng bước khẳng định thương hiệu trên thị trường nhờ sự kết hợp hài hòa giữa nghề truyền thống và tư duy sản xuất hiện đại. Việc sản phẩm được trao Giải thưởng Mai An Tiêm...
































