VnBusiness

VnBusiness

VnBusiness
VnBusiness

Dân sinh

Quy định ATVSTP ngặt hơn Mỹ, Nhật Bản: Hàng xuất khẩu vẫn bị trả về

Quy định ATVSTP ngặt hơn Mỹ, Nhật Bản: Hàng xuất khẩu vẫn bị trả về

Hiện nay, nhiều quy chuẩn kỹ thuật an toàn thực phẩm (ATTP) của Việt Nam được đánh giá ngặt hơn nhiều nước vốn nổi tiếng là khắt khe như Mỹ, EU hay Nhật Bản. Tuy nhiên, hàng nông thủy sản của Việt Nam lại luôn nằm trong nhóm nước bị từ chối nhiều nhất, vì dư lượng thuốc bảo vệ thực vật (BVTV) vượt ngưỡng, quy trình sản xuất, chế biến và bảo quản chưa khép kín...

Thời gian qua, các sản phẩm thủy sản, rau quả của Việt Nam bị từ chối NK vào các thị trường lớn như Mỹ, EU, Nhật Bản… chiếm tỷ lệ khá cao.

Nhiều mặt hàng xuất khẩu bị trả về

Tại diễn đàn chính sách thương mại “ATVSTP: Cơ hội và thách thức đối với DN XK Việt Nam” diễn ra ngày 25/11, bà Hoàng Mai Vân Anh - đại diện Tổ chức Phát triển công nghiệp Liên Hiệp Quốc (Unido), cho biết tỷ lệ từ chối các sản phẩm thủy sản NK vào EU trong giai đoạn 2002 - 2013 đứng đầu là các nước Việt Nam, Ấn Độ, Trung Quốc, Indonesia, Thái Lan, tổng cộng chiếm tới 40%. Lý do bị từ chối liên quan đến dư lượng thuốc thú y, kim loại nặng và ô nhiễm vi sinh chiếm tới 26% các vụ bị từ chối hàng NK.

Indonesia, Việt Nam, Trung Quốc và Thái Lan cũng là những nước chiếm số lượng lớn các vụ bị từ chối NK thủy sản của Mỹ trong giai đoạn từ 2002 - 2013, các lý do chủ yếu bị từ chối là điều kiện, NK của Nhật Bản đối với sản phẩm thủy sản từ năm 2002 - 2013 là từ Việt Nam. Nguyên nhân vẫn là do dư lượng thuốc BVTV và điều kiện/kiểm soát vệ sinh.

Tương tự như mặt hàng thủy sản, dù tỷ lệ bị giữ lại các sản phẩm rau quả có nguồn gốc từ Việt Nam tại các thị trường EU, Nhật Bản, Australia và Mỹ chỉ chiếm 1 - 3%, nhưng những tổn thất về kinh tế là rất lớn.

Thực tế trên cũng được ông Đỗ Kim Lang - Phó Cục trưởng Cục Xúc tiến thương mại (Bộ Công Thương) thừa nhận. Theo ông Lang, XK mặt hàng nông, thủy sản của Việt Nam đang gặp nhiều khó khăn, trong đó có trở ngại về quy định khắt khe của các thị trường NK.

VnBusiness

Việc quản lý thuốc BVTV hiện cực kỳ lỏng lẻo

Do quy trình sản xuất Việt Nam còn thiếu sự gắn kết với thị trường, sự gắn kết, hợp tác theo quy trình sản xuất giữa DN - nông dân còn hạn chế… nên nhiều hàng hóa chất lượng không đồng đều, dư lượng kháng sinh, hóa chất còn cao, không đúng tiêu chuẩn.

Dưới góc độ DN, ông Đào Anh Tuân - công ty TNHH Thế Hệ Mới (chuyên chế biến XK chè) cho biết, ngành chè hiện nay XK 150.000 tấn/năm sang 60 quốc gia. Tuy nhiên, những năm gần đây, XK không tăng do cạnh tranh về giá, chất lượng không đạt (Nhật Bản, EU) vì những vướng mắc về dư lượng thuốc BVTV.

Trả lời cho câu hỏi vì sao hàng Việt Nam lại luôn bị “từ chối” như vậy, ông Tuân cho rằng đối với ngành chè hiện nay, có thể thấy bất kỳ ai cũng sản xuất được chè, không ai kiểm soát nên tạo tâm lý cho người sản xuất là họ vẫn bán được, có ai hỏi hay mắc mớ gì đâu mà cần tiêu chuẩn nọ, tiêu chuẩn kia đâu. Trong khi thuốc BVTV, chúng ta quản lý cực kỳ lỏng lẻo, mua bán dễ, nhập lậu qua biên giới lại càng dễ.

Lỗ hổng chính sách

Hơn nữa trên thực tế Việt Nam có nhiều quy định khắt khe về kiểm soát ATTP đối với sản phẩm XK, thậm chí những quy định của Việt Nam chặt hơn cả EU, Nhật Bản. Tuy nhiên, theo ông Tuân là không có tính thực tế. Nhiều phương án khó không ai thực hiện được, dẫn đến tâm lý làm sai.

Ông Nguyễn Hoàng Linh - Phó Tổng cục trưởng Tổng cục Tiêu chuẩn Đo lường Chất lượng, cũng cho rằng hiện nay, các DN XK đang gặp phải vấn đề là hàng XK không đáp ứng được yêu cầu. Trong khi một số nội quy của chúng ta còn chặt hơn cả ở nước ngoài. Đó chính là rào cản cho DN.

Vì vậy, dưới góc độ người làm chính sách, ông Đặng Công Hiến - Viện nghiên cứu Thương mại, nhận định: “Hiện nay, đã có một số văn bản quy định chính sách về ATTP như Luật ATTP, Luật Thương mại, Luật Cạnh tranh, Luật Bảo vệ người tiêu dùng, Luật Tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật, Luật Chất lượng hàng hóa; các Nghị định của Chính phủ, Quyết định của Thủ tướng Chính phủ; Thông tư của các Bộ, cơ quan ngang Bộ, Quyết định Bộ trưởng... Tuy nhiên, hạn chế lớn nhất trong chính sách ATTP vẫn chưa theo kịp thực tiễn. Quy định trong chính sách ATTP có tính ổn định thấp, gây khó khăn trong quá trình áp dụng. Thiếu quy định chi tiết, cụ thể hoặc chưa phù hợp với tình hình hoạt động SX-KD nên khó khăn khi thực thi chính sách”.

Hiệu quả của công tác kiểm nghiệm chất lượng VSATTP chưa cao. Hệ thống bộ máy quản lý nhà nước về ATTP chưa tối ưu, cùng với đó, năng lực cán bộ còn hạn chế; công tác tập huấn, đào tạo phổ biến, tuyên truyền chính sách về ATTP chưa đáp ứng yêu cầu đặt ra.

Nguyên nhân của vấn đề chính sách ATTP chưa đạt được hiệu quả cao nhất, theo ông Hiến, chủ yếu là do việc rà soát còn hạn chế nên tính thống nhất trong một số quy định pháp luật chưa bảo đảm; hoạt động ban hành các văn bản dưới luật chưa kịp thời, gây khó khăn trong việc thực thi.

Việc phối hợp giữa các Bộ, ngành trong công tác ban hành chưa được quan tâm đúng mức, đặc biệt, công tác nghiên cứu khoa học làm cơ sở cho việc xây dựng chiến lược VSATTP; công tác quy hoạch các vùng sản xuất thực phẩm an toàn, cảnh báo, kiểm soát nguy cơ ô nhiễm thực phẩm, ngộ độc thực phẩm, bệnh truyền qua thực phẩm… chưa được chú trọng đúng mức và công tác phân tích đánh giá chính sách chưa được chú trọng.

Vì vậy, ông Đỗ Kim Lang cho rằng việc bảo đảm ATTP chỉ có thể giải quyết được tốt nếu có những biện pháp mang tính đồng bộ từ người quản lý, người sản xuất đến người tiêu dùng... từ đó, thực phẩm tiêu dùng nói chung và XK nói riêng của Việt Nam mới có thể có được vị thế vững chắc trên thị trường.

Thy Lê

}

Ba ba gai Cát Thịnh “mỏ vàng” mới từ kinh tế ao nuôi

Dưới những ao nuôi được kè bờ chắc chắn ở thôn Văn Hưng, xã Cát Thịnh, tỉnh Lào Cai, những con ba ba gai thương phẩm đang được HTX Chăn nuôi ba ba gai Cát Thịnh chăm sóc cẩn trọng. Mỗi con có giá từ 3 đến 5 triệu đồng, chưa kể hàng vạn con giống...

VnBusiness