
Loay hoay với mối lo kiểm tra chuyên ngành
Việc chậm chuyển biến kiểm tra chuyên ngành được thể hiện qua một số thông tư, công văn còn bất cập, thiếu rõ ràng tiếp tục là mối lo tạo bất lợi về thời gian và chi phí cho các doanh nghiệp trong hoạt động xuất nhập khẩu.
Mới đây, một số doanh nghiệp (DN) Nhật thông qua Tổ chức Xúc tiến thương mại Nhật Bản (Jetro) tại Tp.HCM đã đề nghị Bộ NN&PTNT nên xem xét lại Công văn số 99/KD2 về vấn đề xử lý liên quan đến hạt cỏ Cirsium arvense và mong muốn được thực hiện giống như trước (không tái xuất các lô hàng lúa mì có hạt cỏ).
Thực ra, đề nghị này không phải là mới khi hồi tháng 10 năm ngoái, nhiều DN nội thuộc Hội Lương thực thực phẩm Tp.HCM cũng đã phản ánh những khó khăn khi thực hiện Công văn số 99.
Rủi ro nảy sinh
Theo luật sư Nakagawa Motohisa, đại diện pháp lý cho một số DN Nhật trong ngành hàng thực phẩm, hạt cỏ Cirsium thường có lẫn trong lúa mì nhập khẩu (NK). Vì vậy, với quy định của Công văn 99, lượng lúa mì có thể NK vào Việt Nam sẽ giảm, việc nhập vào lượng bột mì cần thiết sẽ trở nên khó khăn.
"Kết quả của việc này là có rủi ro nảy sinh hiện tượng tăng giá bột mì bán trong nước, gây bất lợi không nhỏ cho ngành công nghiệp thực phẩm và người tiêu dùng Việt Nam. Trong khi đó, ở Nhật Bản, hạt cỏ Cirsium không bị cấm và có thể NK các mặt hàng có trộn lẫn chúng", ông Nakagawa lưu ý.
Trên thực tế, vấn đề kiểm soát hạt cỏ Cirsium chỉ là một trong những vướng mắc của DN trong việc kiểm dịch động thực vật, kiểm tra chuyên ngành đã và đang tồn tại ở một số thông tư của Bộ NN&PTNT.
Tại phiên họp thường kỳ vừa qua của Chính phủ, Bộ trưởng Bộ KH&ĐT Nguyễn Chí Dũng đã lưu ý hoạt động kiểm tra chuyên ngành đối với hàng hóa xuất khẩu, NK vẫn chưa có chuyển biến, cải cách nào đáng kể trong quý I/2019.
Bộ trưởng Bộ KH&ĐT đã "điểm danh" hai thông tư của Bộ NN&PTNT là Thông tư số 35/2018/ TT-BNNPTNT (về kiểm dịch động vật, sản phẩm động vật trên cạn) và Thông tư số 36/2018/TT-BNNPTNT (về kiểm dịch động vật, sản phẩm động vật thủy sản) có hiệu lực kể từ ngày 10/2/2019.
Theo đó, do một số quy định thiếu rõ ràng từ hai thông tư này dẫn tới cách hiểu khác nhau giữa cơ quan hải quan và DN, khiến DN phải chịu cảnh ứ đọng hàng hóa tại cảng, ảnh hưởng đến quá trình sản xuất.
Ngoài ra, Bộ trưởng Bộ KH&ĐT cũng nêu vấn đề Thông tư số 21/2017/ TT-BCT của Bộ Công Thương ban hành quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về mức giới hạn hàm lượng formaldehyt và các amin thơm chuyển hóa từ thuốc nhuộm azo trong sản phẩm dệt may (có hiệu lực từ ngày 1/5/2018, sau đó lùi hiệu lực thi hành đến ngày 1/1/2019) đã và đang tiếp tục gây khó khăn, tốn kém thời gian và chi phí của DN trong kiểm tra formaldehyt.
Cần giảm gánh nặng cho DN
Mặc dù việc vi phạm về hàm lượng formaldehyt của DN lâu nay là rất nhỏ (dưới 1%), nhưng Thông tư 21 lại yêu cầu áp dụng kiểm tra hợp quy theo lô thực tế, không những không giảm gánh nặng cho DN mà còn gây tốn kém hơn nhiều so với trước.
DN vừa tốn kém thời gian và chi phí kiểm tra theo lô như trước đây, vừa tốn kém cho việc dán tem QR, vì vậy đã ảnh hưởng đến hoạt động sản xuất kinh doanh của nhiều DN.
Một số DN dệt may cho biết, sau những lần sửa đổi và bãi bỏ quy định về mức giới hạn và việc kiểm tra hàm lượng formaldehyde và amin thơm chuyển hóa từ thuốc nhuộm azo trong sản phẩm dệt may, DN mong mỏi Thông tư 21 sẽ giúp họ dễ thở hơn nhưng sự thật lại trái ngược.
Nhiều DN lúng túng và chưa biết thông tư này có quy định tất cả sản phẩm dệt may khi đưa ra thị trường phải công bố quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về mức giới hạn hàm lượng formaldehyde và các amin thơm chuyển hóa từ thuốc nhuộm azo và dán nhãn hợp quy.
Cần nhắc lại, trong Báo cáo môi trường kinh doanh tại Việt Nam năm 2018 của Ngân hàng Thế giới (WB) đánh giá chi phí tuân thủ quy định, bao gồm tuân thủ chứng từ kiểm tra chuyên ngành, tuân thủ thủ tục hải quan và các cơ quan khác ngoài hải quan tại cửa khẩu chiếm 37% tổng chi phí.
Thực tế, việc tuân thủ về chứng từ kiểm tra chuyên ngành (bao gồm toàn bộ dữ liệu về thời gian và chi phí, xin, lập, xử lý, trình và nộp toàn bộ chứng từ theo yêu cầu) đến nay vẫn là cả thách thức với DN. Những văn bản này gồm có vận đơn, hóa đơn thương mại, tờ khai hàng hóa, chứng nhận xuất xứ, đơn hàng, tờ khai hải quan NK, báo cáo kiểm tra, chứng nhận SOLAS (đối với hàng NK).
Giới chuyên gia nhận định các chứng từ này tạo gánh nặng nhất về thời gian và chi phí đối với DN liên quan đến chứng nhận xuất xứ, báo cáo thanh kiểm tra, vận đơn và tiêu chuẩn kỹ thuật. Đối với NK, việc tuân thủ yêu cầu chứng từ về kiểm tra chuyên ngành là tốn thời gian nhất, còn xếp dỡ và lưu kho tại cảng có phí tổn về tiền cao nhất.
Trong điều kiện xuất khẩu của Việt Nam có giá trị gia tăng thấp (phải NK hầu hết nguyên liệu cho sản xuất xuất khẩu), điều mong mỏi của các DN là các cơ quan quản lý cần nhận thức tầm quan trọng của việc cắt giảm kiểm tra chuyên ngành cũng như việc giảm thời gian và chi phí NK cho DN nên được ưu tiên hơn.
Thế Vinh

Kênh đầu tư năm 2026: Thời kỳ “tiền đắt” và chiến lược phòng thủ lên ngôi
Một số chi nhánh của BIDV lộ thiếu sót trong cho vay, thẩm định và giám sát vốn
Công ty Phát Đạt và thương vụ trái phiếu 5.400 tỷ đồng gây chú ý cuối 2025

Thanh tra Chính phủ “tuýt còi” Panorama Nha Trang vì giao đất không đấu giá
Dự án Sunbay Park Hotel & Resort: Cấp sai 17 sổ đỏ, chưa nộp ngân sách hàng trăm tỷ
Lướt sóng chung cư rục rịch thoát hàng vì sợ 'bão lãi suất'?
Rục rịch rót tiền ‘đón sóng’ căn hộ ven vành đai
Hà Nội: Làng quất Tứ Liên chạy nước rút vào vụ Tết
Những ngày này, làng quất Tứ Liên bước vào quãng thời gian bận rộn nhất trong năm. Trên khắp các khu vườn, người trồng quất tất bật uốn cành, chỉnh thế, giữ dáng cho từng cây, chạy đua với thời gian để kịp đưa ra thị trường vào dịp Tết.
Đừng bỏ lỡ
Ba ba gai Cát Thịnh “mỏ vàng” mới từ kinh tế ao nuôi
Dưới những ao nuôi được kè bờ chắc chắn ở thôn Văn Hưng, xã Cát Thịnh, tỉnh Lào Cai, những con ba ba gai thương phẩm đang được HTX Chăn nuôi ba ba gai Cát Thịnh chăm sóc cẩn trọng. Mỗi con có giá từ 3 đến 5 triệu đồng, chưa kể hàng vạn con giống...































