
Làng nghề Việt Nam: Thách thức đến từ thị trường
Các làng nghề đã có tinh hoa, kinh nghiệm nhưng làm sao để tạo ra những dòng sản phẩm mới, phù hợp với thị hiếu thị trường và luôn có tính thời trang. Bên cạnh đó, tổ chức xúc tiến thương mại, tổ chức cung ứng sao cho hiệu quả để khách hàng tiếp cận được với sản phẩm đang là những thách thức lớn mà các làng nghề phải vượt qua trong tiến trình hội nhập.
Theo Bộ NN&PTNT, tính đến ngày 31/12/2014, số làng nghề và làng có nghề nước ta là 5.096 làng. Số làng nghề truyền thống được công nhận theo tiêu chí làng nghề hiện nay của Chính phủ là 1.748 làng (riêng Hà Nội có 1.350 làng nghề, trong đó 286 làng nghề đã được UBND thành phố công nhận là làng nghề truyền thống). Có nhiều làng tồn tại từ 500 - 1.000 năm lại đây, trở thành những làng nghề tiêu biểu được cả nước và thế giới biết đến, như lụa Vạn Phúc, tranh Đông Hồ, gốm sứ Bát Tràng…
Khó tiếp cận thị trường
Nhận định về vai trò của làng nghề, Ts. Tôn Gia Hóa - Phó Chủ tịch Hiệp hội Làng nghề Việt Nam, cho biết làng nghề cả nước đang thu hút 13 triệu lao động, trong đó 35% là lao động thường xuyên, còn lại là lao động thời vụ lúc nông nhàn. Làng nghề đã góp phần tạo việc làm cải thiện đời sống cho dân cư nông thôn, góp phần quan trọng vào xây dựng nông thôn mới.
Tuy nhiên, bên cạnh những yếu tố tích cực, các làng nghề cũng đã bộc lộ những yếu kém nhất định như: chất lượng sản phẩm hàng hóa của làng nghề còn thấp, thị trường chậm được mở rộng, chưa thực sự đáp ứng nhu cầu của người tiêu dùng. Đối với thị trường nước ngoài, thì việc tiếp thị còn kém, chưa gắn kết được các khâu trong chuỗi giá trị từ thiết kế mẫu mã, cung ứng nguyên liệu, phụ liệu đến sản xuất và tiêu thụ. Đội ngũ nghệ nhân, thợ giỏi làng nghề chưa được quan tâm bồi dưỡng, phát huy đúng mức. Khoa học, công nghệ chưa được ứng dụng nhiều vào làng nghề. Tình trạng ô nhiễm tại làng nghề vẫn chưa được xử lý có hiệu quả. Việc liên kết giữa các cơ sở, giữa các làng nghề còn rất nhiều hạn chế.
Những khó khăn trong việc đáp ứng nhu cầu thị trường, kết nối với khách hàng là trăn trở của nhiều làng nghề hiện nay. Theo đại diện HTX Quang Minh (làng nghề Bát Tràng), thị trường với tiêu chí người Việt Nam ưu tiên dùng hàng Việt Nam, với dân số hơn 90 triệu dân là một thị trường đầy tiềm năng, rộng lớn. Trước kia, gốm sứ Bát Tràng là chất lượng thấp và ở phân khúc thị trường thấp. Nhưng hiện nay, với những nỗ lực của người dân làng nghề Bát Tràng, hiện các sản phẩm đã ở phân khúc khá cao, có những sản phẩm của Bát Tràng phải thuộc tầng lớp trung lưu, có nhiều tiền mới dùng được.
Những năm qua, từ Trung ương đến địa phương đã có nhiều chính sách, hoạt động hỗ trợ làng nghề, nhưng nhiều hỗ trợ mới chỉ nằm phần ngọn. Chẳng hạn việc xúc tiến thương mại, dù Chính phủ đã bỏ ra nhiều tiền của cho công tác này, nhưng các làng nghề bán gì ra thị trường, làm hàng như thế nào để bán ra thị trường thì còn đang gặp khó.
Các làng nghề thường làm theo kinh nghiệm, mà chưa với tới được cái mới cho thị trường
Hỗ trợ tổng thể
Lâu nay, các làng nghề thường làm theo kinh nghiệm, mà chưa với tới được cái mới cho thị trường. Không chỉ lo ngại về mặt mẫu mã, sản phẩm làng nghề còn khó tiếp cận khách hàng bởi cách tổ chức phân phối sản phẩm.
Theo bà Hà Thị Vinh - Giám đốc công ty TNHH Quang Vinh, do tính đa đạng, phong phú chủng loại và trải rộng trên nhiều địa phương, nên tại các làng nghề, việc hình thành hệ thống dịch vụ khách hàng nhỏ lẻ, thiếu đồng bộ, chuyên nghiệp, có nhiều khâu trung gian làm cho khách hàng không phân biệt được sản phẩm chính hiệu, giá gốc. Thậm chí cùng sản phẩm, thương hiệu của một làng nghề nhưng chất lượng lại không đồng nhất. Chưa có nhiều sản phẩm đăng ký thương hiệu và chứng nhận chất lượng sản phẩm vì vậy khó trở thành các sản phẩm thương mại xuất khẩu.
Bà Vinh nhận định: “Quá trình hội nhập ASEAN là thách thức to lớn cho các doanh nghiệp Việt Nam, nhất là cho các doanh nghiệp, HTX, hộ sản xuất các sản phẩm làng nghề Việt Nam. Nhiều khả năng chúng ta lại thua thiệt ngay trên sân nhà, Một phần do khả năng hạn chế, yếu của các đơn vị sản xuất (thường là kinh tế hộ gia đình), mặt khác do hệ thống phân phối bao gồm XNK, bán buôn, bán lẻ cho các làng nghề còn quá yếu kém”.
Nhiều ý kiến cho rằng, để các làng nghề nắm bắt cơ hội, hội nhập thành công, Nhà nước cần có các chính sách hỗ trợ tổng thể cho sản xuất và tiêu thụ sản phẩm làng nghề Việt Nam, như hỗ trợ về tài chính, hỗ trợ sản xuất tiêu thụ sản phẩm, hỗ trợ quy hoạch tạo vùng nguyên liệu bền vững, hỗ trợ sản xuất gắn với bảo vệ môi trường, hỗ trợ sử dụng công nghệ, nghiên cứu mẫu mã, đào tạo cũng như xây dựng các hệ thống phân phối, tổ chức hội trợ triển lãm trong và ngoài nước, đặc biệt xây dựng các trung tâm giới thiệu sản phẩm làng nghề tập trung quy mô cả nước, khu vực. Đẩy mạnh chính sách “Người Việt ưu tiên dùng hàng Việt”. Còn các doanh nghiệp, HTX làng nghề cũng cần liên kết lại, tạo sức mạnh, sức cạnh tranh…
Thu Hường

Ngành dầu khí 2026: Thượng nguồn trở lại đường đua tăng trưởng
Cá tra Việt Nam duy trì triển vọng tích cực giữa nhiều sức ép cạnh tranh
Đầu tư công tăng tốc, nhóm cổ phiếu hạ tầng hưởng lợi ra sao trong năm 2026?

Không ngại khó, thanh niên nông thôn tự tin làm giàu từ cây trồng bản địa
Trồng nấm dưới mái pin mặt trời: Mô hình “2 trong 1” mở hướng nông nghiệp xanh
Việt Nam sắp có trung tâm đổi mới sáng tạo về nông nghiệp thông minh tại Lạng Sơn
Bài toán thực chiến từ doanh nghiệp Nhật tìm lời giải của startup Việt
Hà Nội: Làng quất Tứ Liên chạy nước rút vào vụ Tết
Những ngày này, làng quất Tứ Liên bước vào quãng thời gian bận rộn nhất trong năm. Trên khắp các khu vườn, người trồng quất tất bật uốn cành, chỉnh thế, giữ dáng cho từng cây, chạy đua với thời gian để kịp đưa ra thị trường vào dịp Tết.
Đừng bỏ lỡ
Ba ba gai Cát Thịnh “mỏ vàng” mới từ kinh tế ao nuôi
Dưới những ao nuôi được kè bờ chắc chắn ở thôn Văn Hưng, xã Cát Thịnh, tỉnh Lào Cai, những con ba ba gai thương phẩm đang được HTX Chăn nuôi ba ba gai Cát Thịnh chăm sóc cẩn trọng. Mỗi con có giá từ 3 đến 5 triệu đồng, chưa kể hàng vạn con giống...































