VnBusiness

VnBusiness

VnBusiness

Tài chính

Áp lực thanh khoản ngân hàng gia tăng, tín dụng ngày càng lệ thuộc bất động sản

Áp lực thanh khoản ngân hàng gia tăng, tín dụng ngày càng lệ thuộc bất động sản

WB cảnh báo hệ thống ngân hàng Việt Nam đang đối mặt áp lực thanh khoản gia tăng trong bối cảnh tín dụng tiếp tục tập trung mạnh vào bất động sản, tỷ lệ đòn bẩy doanh nghiệp ở mức cao và môi trường quốc tế ngày càng biến động.

Theo báo cáo cập nhật tình hình kinh tế Việt Nam tháng 5/2026 được Ngân hàng Thế giới (WB) công bố ngày 15/5, các chuyên gia đánh giá Việt Nam bước vào năm 2026 với nền kinh tế tăng trưởng tích cực, song các rủi ro tài chính đang có xu hướng tích tụ rõ hơn trong hệ thống ngân hàng. 

Tăng trưởng tín dụng so với GDP.
Tăng trưởng tín dụng so với GDP.

WB cho biết áp lực tỷ giá gia tăng do thâm hụt thương mại trong quý I/2026, đồng USD mạnh lên và chi phí nhập khẩu dầu tăng cao. Trong khi đó, người gửi tiền bắt đầu tìm kiếm các tài sản có lợi suất cao hơn ngoài hệ thống ngân hàng, khiến căng thẳng thanh khoản xuất hiện tại một số tổ chức tín dụng.

Báo cáo lưu ý tín dụng đang ngày càng tập trung vào lĩnh vực bất động sản, trong khi đòn bẩy tài chính của khu vực doanh nghiệp Việt Nam thuộc nhóm cao nhất ASEAN.

Tại họp báo công bố báo cáo, bà Tehmina S. Khan, Chuyên gia kinh tế trưởng WB, cho biết một trong những điểm đáng lưu ý hiện nay là mô hình tăng trưởng của Việt Nam vẫn phụ thuộc lớn vào hệ thống ngân hàng.

Theo bà Tehmina S. Khan, đòn bẩy tài chính cao của khu vực doanh nghiệp tập trung đáng kể trong lĩnh vực bất động sản. Bên cạnh các công cụ khác. Tuy nhiên, việc duy trì các chỉ tiêu tăng tín dụng ở mức hai con số trong nhiều năm liên tiếp sau COVID-19 đã đẩy tỷ lệ tín dụng trên GDP lên 145% - mức cao nhất trong ASEAN và thuộc nhóm cao nhất trong các nền kinh tế thu nhập trung bình thấp. Trong đó, bất động sản chiếm khoảng một phần tư tổng dư nợ tín dụng, là một nguồn rủi ro tiềm tàng khi khoảng một nửa số này được cấp cho các doanh nghiệp phát triển bất động sản. Hệ số an toàn vốn của toàn hệ thống thấp hơn so với các nước trong ASEAN.

“Khi nền kinh tế mở rộng nhanh trong thời gian dài, tín dụng thường tăng mạnh hơn tốc độ tăng GDP, kéo theo rủi ro về chất lượng tài sản và áp lực vốn nếu các cú sốc bên ngoài xuất hiện. Điều quan trọng là phải xây dựng được các bộ đệm tài chính đủ mạnh trước khi rủi ro xảy ra”, bà Tehmina S. Khan nói.

WB đánh giá Ngân hàng Nhà nước đã bắt đầu chuyển sang lập trường tiền tệ thận trọng hơn trước các áp lực lạm phát và tỷ giá. Đồng thời, cơ quan điều hành cũng đang yêu cầu các ngân hàng tiến tới áp dụng các tiêu chuẩn vốn và quản trị rủi ro tiệm cận Basel III vào năm 2030.

Chia sẻ thêm về vấn đề này, bà Mariam J. Sherman, Giám đốc Ngân hàng Thế giới phụ trách Việt Nam, Campuchia và Lào, cho rằng việc củng cố khả năng chống chịu của hệ thống tài chính sẽ đóng vai trò đặc biệt quan trọng trong giai đoạn hiện nay, khi nền kinh tế toàn cầu đối mặt nhiều bất định và chi phí vốn quốc tế có xu hướng tăng.

Theo  Sherman Việt Nam cần tiếp tục cải thiện khuôn khổ giám sát tài chính, nâng cao quản trị rủi ro và bảo đảm phân bổ tín dụng hiệu quả hơn cho khu vực sản xuất.

Đáng chú ý, các chuyên gia chỉ ra cú sốc dầu mỏ từ xung đột Trung Đông đang tạo áp lực kép đối với nhiều nền kinh tế nhập khẩu năng lượng, bao gồm Việt Nam. Giá nhiên liệu tăng không chỉ làm tăng chi phí sản xuất mà còn tạo áp lực lên tỷ giá, lạm phát và thanh khoản hệ thống tài chính.

Theo WB, hóa đơn nhập khẩu dầu tăng lên sẽ làm gia tăng nhu cầu ngoại tệ, từ đó gây sức ép lên tài khoản vãng lai, dự trữ ngoại hối và thị trường tiền tệ trong nước. Báo cáo lưu ý dự trữ ngoại hối của Việt Nam hiện mới tương đương khoảng hai tháng nhập khẩu, thấp hơn mức khuyến nghị của Cơ quan Năng lượng Quốc tế.

Trước câu hỏi về khả năng Việt Nam duy trì ổn định tài chính trong bối cảnh tăng trưởng tín dụng cao kéo dài?

Chuyên gia kinh tế trưởng WB cho hay Việt Nam vẫn có nhiều lợi thế nhờ dư địa tài khóa tương đối tích cực và nền kinh tế duy trì tăng trưởng cao. Tuy nhiên, bà nhấn mạnh việc duy trì ổn định tài chính cần đi cùng cải cách sâu hơn về cấu trúc thị trường vốn và giảm phụ thuộc quá lớn vào tín dụng ngân hàng.

Theo chuyên gia WB, nếu dòng vốn tiếp tục dồn mạnh vào các lĩnh vực tài sản thay vì khu vực sản xuất có năng suất cao, rủi ro đối với hệ thống tài chính sẽ tăng lên trong trung hạn.

Ở góc độ chính sách, ông Nguyễn Xuân Thành, Giảng viên Chính sách công Đại học Fulbright Việt Nam, cho rằng Việt Nam cần đặc biệt chú trọng hiệu quả sử dụng vốn trong giai đoạn mở rộng đầu tư quy mô lớn hiện nay.

Theo ông, trong bối cảnh nguồn lực tài chính có giới hạn, việc lựa chọn dự án, kiểm soát chi phí và bảo đảm hiệu quả đầu tư sẽ ảnh hưởng trực tiếp tới ổn định tài khóa và hệ thống tín dụng. Ông cũng lưu ý áp lực huy động vốn cho các dự án hạ tầng lớn có thể tạo thêm sức ép lên hệ thống tài chính nếu không huy động được hiệu quả nguồn lực tư nhân và các kênh vốn dài hạn.

Theo WB, triển vọng trung hạn của Việt Nam vẫn tích cực nếu các cải cách được triển khai đồng bộ, thị trường tài chính được phát triển theo chiều sâu và hệ thống ngân hàng nâng cao được năng lực quản trị rủi ro.

Tổ chức này cho rằng quá trình chuyển đổi từ mô hình tăng trưởng dựa chủ yếu vào tín dụng ngân hàng sang mô hình dựa nhiều hơn vào năng suất và thị trường vốn sẽ là yếu tố then chốt để nâng cao khả năng chống chịu của nền kinh tế trong các giai đoạn biến động tiếp theo.

Huyền Anh

VnBusiness