Từ nương rẫy lên sàn số, chiếc điện thoại đổi cách làm ăn ở vùng cao
Từ một lần lướt điện thoại lúc rảnh giữa công trường, anh Lý Láo Sử, người Dao ở thôn Ná Nàm, xã Bát Xát, Lào Cai, đã tìm thấy một hướng đi mới để thoát nghèo.
Câu chuyện của anh Sử không còn là trường hợp đơn lẻ. Khi ngày càng nhiều hợp tác xã đưa nông sản vùng cao lên các nền tảng thương mại điện tử, công nghệ số đang dần vượt qua những cách trở về địa lý để đi sâu vào đời sống sản xuất. Từ một phương tiện liên lạc, chiếc điện thoại đang trở thành công cụ lao động, bán hàng và kết nối thị trường, từng bước làm thay đổi cách những sản phẩm đặc trưng của vùng đồng bào dân tộc thiểu số tham gia vào chuỗi giá trị.
Từ màn hình điện thoại đến một sinh kế mới
Trước năm 2023, Lý Láo Sử, sinh năm 1996, vẫn là công nhân lái máy xúc, quanh năm làm việc xa nhà. Anh từng thử tìm kế sinh nhai ngay trên quê hương bằng những vật nuôi quen thuộc như trâu, dê nhưng không đạt kết quả như mong muốn.
Bước ngoặt lại đến từ một lần lên mạng. Qua màn hình điện thoại, Sử biết đến dúi má đào, vật nuôi khi ấy còn khá mới tại địa phương, có giá trị kinh tế cao nhưng đòi hỏi kỹ thuật chăm sóc. Không có lớp học hay khóa đào tạo bài bản, anh tự tìm các video hướng dẫn, học cách làm chuồng, chọn giống, chăm sóc và phòng bệnh.
Có kiến thức ban đầu, Sử vay 100 triệu đồng từ nguồn tín dụng ưu đãi dành cho hộ nghèo, hộ cận nghèo để dựng chuồng và mua 26 cặp dúi giống. Hơn 3 năm sau, đàn dúi đã tăng lên gần 300 con. Dúi thương phẩm được bán với giá khoảng 500.000 đồng/kg, dúi giống khoảng 2,6 triệu đồng/cặp, tạo nên mô hình kinh tế có giá trị hàng trăm triệu đồng. Năm 2026, mô hình được xã Bát Xát lựa chọn là điển hình “Dân vận khéo”.
Đến thăm mô hình, ông Nguyễn Kiều Phương, Bí thư Đảng ủy xã Bát Xát, nhận xét: “Trước hết là khéo trong vận động, giúp người dân thay đổi tư duy sản xuất, mạnh dạn chuyển đổi cơ cấu vật nuôi phù hợp với điều kiện thực tế. Đồng thời là cái khéo trong việc hướng dẫn, hỗ trợ người dân tiếp cận và ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất”.
Câu chuyện của Lý Láo Sử cho thấy công nghệ số có thể mở ra một sinh kế mới cho một hộ gia đình. Ở quy mô lớn hơn, Hợp tác xã Yến Dương tại xã Thượng Minh, Thái Nguyên lại cho thấy một bước chuyển khác, công nghệ không chỉ thay đổi cách một người sản xuất, mà còn có thể tổ chức lại cách nông sản miền núi đi từ người làm ra sản phẩm đến thị trường.
Liên kết với hàng trăm hộ dân, HTX Yến Dương tổ chức sản xuất theo tiêu chuẩn, từng bước nâng những nông sản quen thuộc của địa phương như miến dong Yến Dương, trà Lê Hà, bí thơm, gạo nếp Tài thành các sản phẩm OCOP 3 đến 4 sao. Công nghệ số được đưa vào nhiều khâu, từ truy xuất nguồn gốc đến quảng bá và tiêu thụ sản phẩm.
Toàn bộ sản phẩm của HTX đã được gắn mã truy xuất nguồn gốc, trong khi hơn 90% doanh thu đến từ các kênh số như Shopee, Zalo, Facebook và TikTok. Riêng gian hàng “Bản Việt Thái Nguyên” trên Shopee có 94 sản phẩm, đã thực hiện 125 phiên livestream và ghi nhận hơn 1.140 đơn hàng.
Công nghệ số cũng không còn dừng ở khâu quảng bá và bán hàng, mà đang đi sâu hơn vào quá trình sản xuất. Tại Thái Nguyên, một số hợp tác xã đã ứng dụng cảm biến IoT để theo dõi điều kiện môi trường tại vùng trồng chè, qua đó giảm thất thoát khoảng 15 - 20% và kiểm soát chất lượng sản phẩm tốt hơn theo yêu cầu của thị trường.
Ở đầu ra, những phương thức bán hàng mới cũng đang mở rộng nhanh. Mô hình livestream “Cây na số” tại xã Võ Nhai là một ví dụ. Năm 2025, chương trình thu hút hơn 10 triệu lượt tiếp cận, riêng một phiên bán hàng ghi nhận khoảng 1.500 đơn chỉ trong 5 giờ. Đến ngày 7/8/2026, mô hình tiếp tục được triển khai, lần này kết hợp hoạt động thương mại với gây quỹ hỗ trợ giảm nghèo. Từ một loại quả đặc sản vốn phụ thuộc nhiều vào mùa vụ và thị trường gần, quả na đã có thêm một kênh tiếp cận trực tiếp với lượng lớn người tiêu dùng.
Nhưng để công nghệ thực sự đi vào bản làng, hạ tầng số thôi chưa đủ, người dân phải có khả năng sử dụng nó. Câu chuyện của chị Lý Thị Quyên, Giám đốc Hợp tác xã Thiên An tại xã Phủ Thông, Thái Nguyên, cho thấy khoảng cách ấy có thể được thu hẹp từ những việc rất cụ thể. Từng e ngại khi nghe đến “chuyển đổi số”, sau khi được Tổ công nghệ số cộng đồng trực tiếp hướng dẫn, chị đã có thể tự quay, tự đăng và giới thiệu sản phẩm trên mạng xã hội. Bún khô, phở khô cùng các sản phẩm OCOP của hợp tác xã nhờ đó có thêm khách hàng ngoài địa phương.
Quá trình phổ cập kỹ năng số cũng đang vượt ra ngoài hoạt động sản xuất, kinh doanh. Tại xã Bạch Thông, mô hình “Ngày cuối tuần tiếp nhận, hỗ trợ thực hiện dịch vụ công trực tuyến tại cơ sở” được duy trì từ tháng 6/2026, đưa cán bộ xã và thành viên Tổ công nghệ số cộng đồng luân phiên xuống từng thôn để hướng dẫn người dân, kể cả người cao tuổi, tiếp cận dịch vụ công trực tuyến.
Từ cảm biến trên vùng chè, những phiên livestream bán na đến việc cầm tay hướng dẫn người dân sử dụng nền tảng số, công nghệ đang được đưa về cơ sở bằng những ứng dụng ngày càng cụ thể. Điều đáng chú ý không chỉ nằm ở số đơn hàng hay lượt tiếp cận, mà ở khả năng biến kỹ năng số thành một năng lực mới của người dân, giúp họ chủ động hơn trong sản xuất, tiếp cận thị trường và sử dụng các dịch vụ thiết yếu.
Hạ tầng đi trước, kỹ năng số theo sau
Nhưng để một người từng e ngại công nghệ như chị Quyên có thể tự quay, tự giới thiệu sản phẩm trên mạng, hay một thanh niên như Lý Láo Sử có thể tự học kỹ thuật nuôi dúi qua mạng, cần ít nhất hai điều kiện nền tảng. Sóng viễn thông phải đến được thôn bản, và phải có người “cầm tay chỉ việc” để biến chiếc điện thoại từ một công cụ liên lạc thành một công cụ lao động.
Nếu hạ tầng viễn thông giải quyết khoảng cách kết nối, thì các Tổ công nghệ số cộng đồng đang đảm nhiệm vai trò thu hẹp khoảng cách về kỹ năng. Từ những mô hình ban đầu, đến nay 100% xã, phường trên cả nước đã thành lập Tổ công nghệ số cộng đồng, với 93.524 tổ ở cấp thôn và 457.820 thành viên. Riêng xã Bát Xát, Lào Cai hiện có 55 tổ với 520 thành viên.
Điểm đáng chú ý của mô hình này là đưa việc hướng dẫn công nghệ xuống tận cộng đồng, thông qua chính những người gần dân và hiểu địa bàn. Ông Nguyễn Mạnh Hùng, Chủ tịch UBND xã Bát Xát, cho biết: “Mô hình thôn số vận hành nhờ sự hỗ trợ của các Bí thư chi bộ, trưởng thôn, giúp người dân giải quyết các thủ tục hành chính đơn giản theo hình thức online thuận lợi”.
Tại thôn Sơn Hà, xã Bát Xát, khoảng cách số từng hiện hữu trong những việc rất đời thường. Thôn có 132 hộ với hơn 500 nhân khẩu, gần 85% là đồng bào Dao. Trước đây, mỗi khi cần giải quyết giấy tờ, người dân phải xuống tận xã, trong khi không ít người cao tuổi thậm chí không biết đi xe máy.
Từ tháng 11/2025, Sơn Hà được lựa chọn thí điểm mô hình “thôn số”. Nhà văn hóa thôn trở thành điểm kết nối trực tuyến với xã, giúp các cuộc họp và một số hoạt động hành chính không còn bị ngăn cách bởi quãng đường từ thôn đến trụ sở chính quyền. Nhưng để mô hình vận hành, thiết bị và đường truyền chưa phải yếu tố quyết định.
Chị Chảo Tả Mẩy, người dân trong thôn, kể: “Bí thư chi bộ thường xuyên đến tận nhà hướng dẫn bà con thực hiện các thủ tục hành chính trên điện thoại. Khi ở nhà văn hóa thì hướng dẫn trên máy tính, rất tận tình và tâm huyết”.
Người Bí thư chi bộ Lê Mạnh Hùng sinh năm 1993, từng tốt nghiệp Đại học Xây dựng, đã phải “đi từng ngõ, gõ từng nhà”, trực tiếp hướng dẫn và thuyết phục bà con làm quen với điện thoại thông minh và các nền tảng số. Công việc ấy càng không đơn giản ở một địa bàn vẫn còn 34 hộ nghèo và 54 hộ cận nghèo, nơi khoảng cách số gắn chặt với điều kiện kinh tế, tuổi tác và khả năng tiếp cận công nghệ.
Từ Sơn Hà, mô hình “thôn số” đã được nhân rộng ra 7 trong tổng số 47 thôn của xã Bát Xát và tiếp tục được lên kế hoạch mở rộng trong năm 2026. Nhìn lại quá trình này, ông Nguyễn Mạnh Hùng đúc kết: “Nhờ những con người tận tụy, sâu sát cơ sở, niềm tin của Nhân dân vào sự lãnh đạo, điều hành của cấp ủy, chính quyền được vun đắp, khối đoàn kết toàn dân thêm bền chặt”.
Dù vậy, phía sau những mô hình bước đầu cho thấy hiệu quả, khoảng cách số ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi vẫn là một thực tế cần nhìn thẳng. Ngay tại Bát Xát, bài toán đầu tiên là nguồn lực. “Mỗi thôn số phải đầu tư ban đầu khoảng 70 triệu đồng. Nguồn vốn hiện nay chủ yếu dựa vào nguồn xã hội hoá, người dân đóng góp nên cũng gặp nhiều khó khăn khi nhân rộng”, ông Nguyễn Mạnh Hùng cho biết.
Khó khăn lớn hơn nằm ở chính hạ tầng nền tảng. Toàn xã vẫn còn khoảng 10 thôn thuộc vùng “lõm sóng”, trong đó có Trung Hồ, Láo Vàng, Suối Chải, nơi tín hiệu điện thoại và Internet còn rất yếu. Điều đó cũng cho thấy một nghịch lý, trong khi ở nơi này người dân đã có thể bán hàng qua livestream, học kỹ thuật sản xuất qua điện thoại, thì ở nơi khác, điều kiện tối thiểu để bước vào không gian số vẫn chưa được bảo đảm.
Khoảng cách ấy không chỉ có ở Bát Xát. Theo Bộ Dân tộc và Tôn giáo, vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi hiện có 33.764 thôn, trong đó 13.139 thôn đặc biệt khó khăn. Tại một số địa phương miền núi phía Bắc, hạ tầng thiết yếu vẫn chưa đồng đều. Sơn La mới có 82,8% thôn được cứng hóa đường giao thông, trong khi tại nhiều thôn, bản, điện lưới vẫn chưa đến được với người dân. Ở những nơi chưa có điện, câu chuyện phủ sóng viễn thông hay phổ cập kỹ năng số đương nhiên còn phải đứng sau bài toán hạ tầng thiết yếu.
Chính khoảng trống này đang được đặt vào trọng tâm của chính sách viễn thông công ích giai đoạn mới. Tại Quyết định số 777/QĐ-TTg, Thủ tướng Chính phủ đặt mục tiêu đến năm 2030, 100% thôn đã có điện thuộc vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, vùng bãi ngang, ven biển và hải đảo được hỗ trợ phủ sóng thông tin di động và Internet băng rộng; đồng thời hỗ trợ 400.000 điện thoại cho hộ nghèo, hộ cận nghèo tại các địa bàn đặc biệt khó khăn.
Nhìn rộng hơn, những chuyển động đang diễn ra tại Bát Xát, Thượng Minh, Phủ Thông hay Võ Nhai chính là cách tinh thần của Nghị quyết 57-NQ/TW về phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia được cụ thể hóa từ cơ sở. Ở đó, chuyển đổi số không còn là một khái niệm ở tầm chiến lược, mà hiện diện trong từng khâu sản xuất, tiêu thụ và đời sống hằng ngày của người dân.
Điều đáng chú ý không chỉ nằm ở số đơn hàng hay doanh thu tăng thêm, mà ở sự thay đổi vai trò của chính người dân và hợp tác xã. Từ chỗ chủ yếu tiếp nhận công nghệ, họ đang từng bước trở thành người trực tiếp sử dụng và làm chủ công cụ số, từ mã QR truy xuất nguồn gốc, gian hàng trực tuyến đến những phiên livestream tự quay, tự giới thiệu và bán sản phẩm.
Đó cũng là điểm mà chuyển đổi số có thể tạo ra giá trị bền vững nhất cho vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi. Khi công nghệ đi đúng vào nhu cầu sản xuất và sinh kế, giá trị không chỉ được tính bằng vài đơn hàng bán thêm, mà bằng khả năng giúp người dân tiếp cận tri thức, chủ động tìm kiếm thị trường và đưa những sản phẩm từng quanh quẩn trong phạm vi bản làng tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị và thị trường hiện đại, đúng con đường sinh kế bền vững mà chuyển đổi số đang mở ra cho vùng cao.
Linh Đan
Cận cảnh iPhone 18 Pro Max vừa ra mắt: Pin 45 giờ, camera xịn xò và... 'giá chát'
Apple vừa chính thức ra mắt iPhone 18 Pro và iPhone 18 Pro Max tại sự kiện “Surprise and shine” diễn ra lúc 0h ngày 10/9 theo giờ Việt Nam, với loạt nâng cấp đáng chú ý về hiệu năng, pin và camera.
Đừng bỏ lỡ
Phương Di Bee: Những người phụ nữ đánh thức giá trị từ đàn ong
Từ những đàn ong giữa đại ngàn Tây Nguyên, HTX Mật ong Phương Di Bee (tỉnh Gia Lai) đang từng bước nâng tầm giá trị mật ong bằng liên kết, đổi mới sáng tạo và chế biến sâu. Năm 2026, những nỗ lực ấy tiếp tục được ghi nhận khi HTX được trao Giải...


























