VnBusiness

VnBusiness

VnBusiness
VnBusiness

Việt Nam

Tham gia chuỗi giá trị toàn cầu: Việt Nam vẫn đang ở vị trí "đáy"

Tham gia chuỗi giá trị toàn cầu: Việt Nam vẫn đang ở vị trí "đáy"

Hiệu quả của hội nhập quốc tế của Việt Nam không chỉ được nhìn nhận ở khía cạnh kim ngạch xuất khẩu hay nhập khẩu, mà quan trọng hơn là Việt Nam có thể tham gia sâu vào chuỗi cung ứng và chuỗi giá trị toàn cầu. Tuy nhiên, theo đánh giá của các chuyên gia, hiện nay, Việt Nam vẫn đang ở “vị trí đáy” của chuỗi giá trị toàn cầu, do chỉ thực hiện được những khâu mang lại giá trị gia tăng thấp.

Có thể thấy việc tham gia chuỗi cung ứng toàn cầu đem lại cơ hội phát triển cho cả nền kinh tế Việt Nam nói chung và các DN Việt Nam nói riêng như góp phần thúc đẩy tăng trưởng xuất khẩu của Việt Nam với cơ cấu thương mại cân bằng hơn.

Công đoạn ngắn, giá trị thấp

Khi tham gia chuỗi cung ứng toàn cầu, Việt Nam sẽ có điều kiện thuận lợi hơn trong tiếp cận thị trường các nước đối tác, mở rộng thị trường xuất khẩu, đồng thời cân bằng quan hệ thương mại với các khu vực thị trường trọng điểm, tránh phụ thuộc quá mức vào một khu vực thị trường nhất định.

Tiếp đó là những lợi ích như tạo điều kiện thuận lợi để Việt Nam thu hút được dòng FDI với giá trị lớn hơn và công nghệ cao hơn, góp phần tạo thêm việc làm cho người lao động Việt Nam hay tạo điều kiện để Việt Nam hoàn thiện thế chế kinh tế và nâng cao sức cạnh tranh của nền kinh tế….

Tuy nhiên, theo đánh giá của các chuyên gia, hiện nay, Việt Nam vẫn đang ở vị trí đáy của chuỗi giá trị toàn cầu do chỉ thực hiện được những khâu mang lại giá trị gia tăng thấp nhất.

Đơn cử như trong chuỗi giá trị toàn cầu hàng dệt may, khâu thiết kế kiểu dáng được làm ở các trung tâm thời trang thế giới tại Paris, London, New York…; vải được sản xuất tại Trung Quốc; phụ liệu khác được làm tại Ấn Độ, khâu sản xuất sản phẩm cuối cùng được thực hiện tại các quốc gia có chi phí nhân công thấp như Việt Nam, Trung Quốc, Campuchia….

VnBusiness

Tham gia chuỗi giá trị toàn cầu: Việt Nam vẫn đang ở vị trí "đáy"

Theo ước tính, khoảng 90% DN may mặc của Việt Nam tham gia vào khâu này của chuỗi giá trị dưới hình thức gia công. Chính vì thế, sản phẩm dệt may của Việt Nam được xuất đi nhiều nơi, Việt Nam có tên trong top 10 nước xuất khẩu dệt may lớn nhất thế giới nhưng giá trị thu về rất thấp.

Tương tự như vậy trong ngành nông nghiệp, Việt Nam đã đạt được những thành tựu nổi bật, trở thành cường quốc xuất khẩu với nhiều ngành hàng đứng vị trí đầu trên thế giới như gạo, cà phê, cao su, hồ tiêu, hạt điều, chè, thuỷ sản,… tuy nhiên lại không thu được nhiều lợi nhuận.

Về tổng thể, có thể chia chuỗi giá trị nông sản thành ba công đoạn: sản xuất, thu mua, sơ chế/chế biến và bảo quản, cuối cùng là tiêu thụ, Việt Nam phần lớn chỉ dừng ở khâu sản xuất mà chưa có số liệu về giá trị hình thành ở các công đoạn khác như chế biến, thương mại.

Đối với công nghiệp, hiện nay phần lớn các DN Việt Nam chỉ tham gia ở khâu thấp nhất trong chuỗi cung ứng là lắp ráp, gia công. Hiện chỉ có 300 DN Việt Nam đủ năng lực tham gia chuỗi cung ứng nhưng mới chỉ cung cấp các phụ tùng thay thế chứ chưa tham gia sản xuất các sản phẩm chính.

Theo báo cáo mới được Bộ Công Thương công bố, tính đến đầu năm 2016, cả nước mới chỉ có gần 1.400 DN hoạt động trong lĩnh vực công nghiệp hỗ trợ và so với tổng số 500.000 DN đang hoạt động trên cả nước, tức là DN công nghiệp hỗ trợ chỉ chiếm 0,03%.

Quan trọng hơn, do yếu kém về nội lực nên hầu hết các nguyên vật liệu và linh kiện đầu vào phục vụ cho công nghiệp chế biến, chế tạo đều phải nhập khẩu, sản phẩm cuối cùng không tạo ra giá trị gia tăng cao.

Một trong những nguyên nhân dẫn tới tình trạng trên được các chuyên gia chỉ ra là quy mô nhỏ, tính chất phi chính thức lớn, công nghệ và quản lý còn yếu kém, sức cạnh tranh không cao.

Thiếu kết nối

Theo báo cáo của Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI), trong số DN tư nhân đang hoạt động, DN lớn chỉ chiếm chưa đầy 2%, DN vừa 2%, còn lại 96% là DN nhỏ và siêu nhỏ.

Trong khi đó, chu kỳ sống của sản phẩm ngày càng ngắn hơn cùng với mức độ kỳ vọng ngày càng cao của khách hàng, đòi hỏi DN phải có năng lực tài chính đủ mạnh để đầu tư đổi mới sản phẩm, tạo ra những sản phẩm có giá trị gia tăng cao và có thể đứng ở vị trí cao trong chuỗi giá trị toàn cầu.

Đặc biệt, theo PGs.Ts. Phan Tố Uyên, Trường Đại học Kinh tế quốc dân, tính liên kết giữa DN Việt Nam còn hạn chế. Hầu hết các DN Việt Nam phải tự xây dựng chiến lược và tìm chỗ đứng cho mình trên thị trường. Bên cạnh đó, có những DN chưa thật sự xem trọng chữ tín, chưa chú trọng tạo lập và giữ gìn niềm tin với đối tác và khách hàng để khẳng định mình có đủ điều kiện được chọn là những mắt xích trọng yếu trong các chuỗi giá trị toàn cầu.

Hàng hoá do các DN Việt Nam thiếu tính cạnh tranh. Để tham gia vào chuỗi cung ứng toàn cầu, các DN Việt Nam cần xác định lựa chọn sản phẩm nào và tham gia vào đâu trong chuỗi cung ứng toàn cầu. Các DN Việt có tiềm lực tài chính hạn chế, thường thiếu vốn để đầu tư công nghệ nên phải mua công nghệ sẵn có và được bán đại trà, dẫn đến tính cạnh tranh của hàng hoá không cao.

Ngoài ra, các chuyên gia cũng chỉ ra rằng hạ tầng chuỗi cung ứng chưa đảm bảo. Quản lý chuỗi cung ứng cần phải được xây dựng trên một nền tảng hạ tầng phù hợp và luôn đáp ứng kịp yêu cầu phát triển.

Tuy nhiên, ở Việt Nam, hệ thống hạ tầng đường xá, cảng biển, vận tải, kho bãi…. chưa đáp ứng kịp nhu cầu và thường xảy ra tắc nghẽn. Theo đánh giá của Ngân hàng Thế giới (Wordbank), chính sự hạn chế về hạ tầng đã đẩy chi phí vận chuyển của Việt Nam lên cao một cách bất hợp lý, vào khoảng 30-40% tổng chi phí so với con số 15% ở các quốc gia khác.

Bà Nguyễn Thị Tuệ Anh
Phó Viện trưởng Viện Nghiên cứu quản lý kinh tế Trung ương (CIEM)
-------------------------------

Hiện nay, Việt Nam có rất nhiều chương trình, chính sách hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa về mặt thể chế, tín dụng, công nghệ, nhân lực… Tuy nhiên, hiệu quả thực thi các chính sách này còn chưa cao. Ngoài ra, các chính sách khuyến khích công nghệ hỗ trợ theo Nghị định 111/ 2015/NĐ-CP về phát triển công nghiệp hỗ trợ cũng chưa thực sự tạo cú hích cho công nghệ hỗ trợ phát triển bởi các chính sách ưu đãi về thuế, tín dụng, nhân lực quy định trong Nghị định này chưa thực sự mới mà đã quy định ở đâu đó trong các văn bản pháp quy khác.

Ts. Yoichi Sakurada
Viện Nghiên cứu Mitsubishi (Nhật Bản)
------------------------------
Ở Việt Nam, chính sách phát triển cho công nghiệp hỗ trợ chủ yếu vẫn tập trung vào hỗ trợ hành chính, các thủ tục đầu tư, viết form mẫu… Điều này khác với việc hỗ trợ ở Nhật, chúng tôi chủ yếu hỗ trợ về mặt công nghệ và kỹ thuật.

PGs.Ts. Phan Tố Uyên
Trường Đại học Kinh tế quốc dân
-------------------------------
Nhà nước cần xây dựng Chiến lược phát triển chuỗi cung ứng Việt Nam, trong đó xác định các ngành ưu tiên và các đối tác ưu tiên để tham gia chuỗi cung ứng như Hoa Kỳ, EU, Đông Á (Nhật Bản, Hàn Quốc, Singapore…). Nhà nước cần xác định rõ công nghiệp hỗ trợ là ngành đóng vai trò “xương sống” trong nền công nghiệp, trong đó hướng đến các ngành công nghiệp chủ lực của đất nước và các ngành thu hút mạnh nguồn vốn FDI như cơ khí, chế tạo, điện tử tin học… với nhu cầu lớn về sản phẩm công nghiệp hỗ trợ.

Lê Thúy

}

Ba ba gai Cát Thịnh “mỏ vàng” mới từ kinh tế ao nuôi

Dưới những ao nuôi được kè bờ chắc chắn ở thôn Văn Hưng, xã Cát Thịnh, tỉnh Lào Cai, những con ba ba gai thương phẩm đang được HTX Chăn nuôi ba ba gai Cát Thịnh chăm sóc cẩn trọng. Mỗi con có giá từ 3 đến 5 triệu đồng, chưa kể hàng vạn con giống...

VnBusiness