“Áp lực kép” từ nông sản nhập khẩu và biến động thị trường: Nông hộ nhỏ có chùn bước?
Làn sóng nông sản, thực phẩm nhập khẩu gia tăng cùng những biến động khó lường của thị trường đang tạo ra “áp lực kép” đối với các nông hộ nhỏ. Từ cuộc sàng lọc mạnh mẽ, nhiều hộ sản xuất quy mô nhỏ đứng trước câu hỏi lớn: tiếp tục bám trụ hay buộc phải rời bỏ ruộng đồng?
Thực tế cho thấy, nhập khẩu nông sản và thực phẩm đang duy trì xu hướng tăng, góp phần đa dạng hóa nguồn cung cho thị trường trong nước, song đồng thời cũng tạo sức ép không nhỏ lên sản xuất nội địa, đặc biệt là các hộ nông dân nhỏ lẻ với năng lực tài chính, công nghệ và khả năng tiếp cận thị trường còn hạn chế. Khi giá cả đầu vào biến động, trong khi đầu ra chịu cạnh tranh trực tiếp từ hàng nhập khẩu, biên lợi nhuận của nông hộ ngày càng bị thu hẹp.
Từ cuộc “sàng lọc” ngành chăn nuôi
Điều này có thể thấy rõ như nhập khẩu thịt. Mới đây, Cục Xuất nhập khẩu (Bộ Công Thương) có dẫn lại số liệu từ Cục Hải quan (Bộ Tài chính) cho thấy trong năm 2025 vừa qua Việt Nam đã nhập khẩu 978,3 ngàn tấn thịt và các sản phẩm từ thịt. Tổng trị giá nhập khẩu đạt 2,004 tỷ USD, tăng 11,6% về lượng và tăng 12,2% về trị giá so với năm 2024.
Trong đó, Ấn Độ là vẫn là thị trường cung cấp thịt và các sản phẩm từ thịt lớn nhất cho Việt Nam, chiếm 19,29% trong tổng lượng thịt và các sản phẩm từ thịt nhập khẩu của cả nước, đạt 188,7 nghìn tấn, trị giá 681,32 triệu USD. Tiếp theo Nga, Braxin, Mỹ, Úc, Canada là những thị trường cung cấp lớn. Ngoài ra, nhập khẩu từ Nga, Braxin, Canada cũng tăng mạnh.
Năm vừa rồi, các chủng loại thịt Việt Nam nhập khẩu chủ yếu gồm: Thịt và phụ phẩm ăn được sau giết mổ của gia cầm thuộc nhóm 01.05, tươi, ướp lạnh hoặc đông lạnh, chiếm 36,77% về lượng và chiếm 17,94% về trị giá.
Riêng thịt lợn tươi ướp lạnh hoặc đông lạnh, chiếm 18,75% về lượng và chiếm 20,88% về trị giá. Năm 2025, nhập khẩu thịt lợn tươi ướp lạnh hoặc đông lạnh của Việt Nam đạt 183,4 nghìn tấn, trị giá 418,54 triệu USD, tăng 18,75% về lượng và tăng 20,88% về trị giá so với năm 2024. Giá trung bình nhập khẩu thịt lợn tươi ướp lạnh hoặc đông lạnh về Việt Nam năm 2025 ở mức 2.273 USD/tấn, giảm 2,8% so với năm 2024.
Trong đó, Nga là thị trường cung cấp thịt lợn tươi ướp lạnh hoặc đông lạnh lớn nhất cho Việt Nam, chiếm 48,44% tổng lượng thịt lợn nhập khẩu của cả nước. Xếp sau là Braxin chiếm 30,91%.
Nhìn vào những số “biết nói” như vậy, có thể thấy đó là cả áp lực với ngành chăn nuôi nội địa, nhất là với những nông hộ chăn nuôi cấp nhỏ lẻ khi phải đối mặt với cạnh tranh từ thịt nhập khẩu.
Và như nhận định từ Bộ phận phân tích thuộc Công ty chứng khoán ABS, chăn nuôi quy mô nhỏ đang sụt giảm mạnh về đàn nái. Quy mô đàn lợn cả nước nói chung trong thời gian tới có thể suy giảm, nhưng sự suy giảm tập trung ở nông hộ nhỏ lẻ.
Còn theo Bộ phận phân tích thuộc Công ty chứng khoán VCBS, thị phần chăn nuôi của hộ gia đình ngày càng thu hẹp. Cơ cấu chăn nuôi đang chuyển nhanh sang mô hình doanh nghiệp với thị phần của các đơn vị chuyên nghiệp đạt 47% tổng sản lượng.
Đến năm 2030, chăn nuôi nông hộ được dự báo chỉ còn khoảng 25%. Sự thu hẹp này chủ yếu đến từ hai nguyên nhân chính. Thứ nhất là Luật Chăn nuôi có hiệu lực hồi năm 2025 đã thiết lập các tiêu chuẩn khắt khe hơn về an toàn sinh học, môi trường và phúc lợi động vật.
Điều này khiến phần lớn các hộ chăn nuôi quy mô nhỏ gặp khó khăn trong việc đáp ứng các điều kiện pháp lý để duy trì hoạt động. Đồng thời, các doanh nghiệp lớn cũng đang giảm dần quy mô và số lượng trại liên kết với nông hộ để tối ưu hóa kiểm soát chất lượng và an toàn dịch bệnh.
Thứ hai là tình trạng dịch bệnh vẫn chưa được xử lý triệt để, đặc biệt là dịch tả heo Châu Phi (ASF), tiếp tục đe dọa chăn nuôi quy mô nhỏ lẻ. Rủi ro bùng phát dịch bệnh kéo theo chi phí tiêu hủy và các chi phí tuân thủ an toàn sinh học tăng cao, khiến mô hình chăn nuôi nông hộ trở nên kém hiệu quả và không bền vững về mặt kinh tế.
Đến cân nhắc lại sinh kế
Ngoài cuộc “sàng lọc” ở ngành chăn nuôi như nêu trên, xét về khó khăn của các nông hộ nhỏ còn phải kể đến biến động thị trường. Đơn cử như các nông hộ trồng dưa hấu ở Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) phục vụ cho mùa Tết Nguyên đán 2026 đang đối mặt với tình cảnh “dội chợ” cận Tết khi mà trong thượng tuần tháng 2/2026 giá dưa hấu đột ngột xuống mức thấp kỷ lục (từ 5.000-6.000 đồng/kg tại vườn).
Nếu như tháng trước dưa hấu được thương lái đặt cọc khoảng 18 triệu đồng/công, nhưng hiện chỉ còn khoảng 9 triệu đồng/công, giảm hơn 50%. Trong khi đó, do chi phí canh tác cao (đặc biệt là chi phí phân bón được cho là “leo đỉnh” tăng phi mã so với các vụ trước) nên nhiều nông hộ trồng dưa hấu đang lo phải gánh thua lỗ trong mùa Tết này.
Và như chia sẻ của một nông hộ tên là Bé ở tỉnh Vĩnh Long, mối lo hiện nay là dưa hấu bán không được mà nợ thì lại chồng chất.
Theo bà Bé, mùa Tết Nguyên đán mọi năm vào khoảng mùng 10 đến 12 tháng chạp là thương lái vào ruộng dưa thu mua hết, nhưng tính đến qua ngày rằm tháng chạp năm nay, trong số 40 công đất trồng dưa thì mới chỉ bán được hơn 10 công với khoảng 4 tấn dưa, còn lại hiện tại các thương lái chưa hỏi mua vì một số lý do. Nói riêng là mùa Tết này, hiện chưa thấy thương lái từ Tp.HCM điện thoại hỏi mua.
Khó khăn không chỉ đến với những người trồng dưa hấu, biến động thị trường vẫn là thách thức lớn với các nông hộ nhỏ ở “vựa nông sản” ĐBSCL. Điều này khiến cho họ phải cân nhắc lại sinh kế trong tương lai.
Như nhận định của Giáo sư Bob Baulch, chuyên gia kinh tế Đại học RMIT, trong bối cảnh các hộ làm nông nhỏ gặp khó khăn cạnh tranh, còn các hộ không có đất canh tác ít có cơ hội sinh kế ngoài làm nông, quyết định bỏ quê lên phố ngày càng trở nên hấp dẫn đối với người dân vùng nông thôn ĐBSCL.
Ngoài ra, nhóm nghiên cứu từ RMIT cho rằng cơ cấu sử dụng đất ở ĐBSCL cũng đang thay đổi nhanh chóng khi các hộ gia đình ứng phó trước biến động thị trường và áp lực môi trường. Diện tích trồng lúa (vốn chiếm ưu thế trước kia) đã giảm từ 2,4 triệu héc-ta vào năm 2006 xuống còn 1,9 triệu héc-ta vào năm 2022. Trong khi đó, diện tích nuôi trồng thủy sản tăng từ 634.000 héc-ta lên 950.000 héc-ta, và diện tích trồng cây lâu năm như dừa và cây ăn trái khác cũng đang gia tăng.
Những thay đổi này phản ánh cả thực tế môi trường lẫn động lực thị trường. Xâm nhập mặn và hạn hán khiến trồng lúa kém khả thi, buộc nhiều nhà nông chuyển sang nuôi trồng thủy sản hoặc đa dạng hóa sang cây trồng có giá trị cao hơn. Tuy nhiên, quá trình chuyển đổi này không đồng đều.
“Các hộ khá giả, có vốn và năng lực kỹ thuật sẽ gặp thuận lợi hơn khi đầu tư vào nuôi trồng thủy sản hoặc cây lâu năm. Các hộ nghèo, thiếu nguồn lực vẫn gắn bó với trồng lúa lợi nhuận thấp hoặc từ bỏ nghề nông”, nhóm nghiên cứu của RMIT chỉ rõ.
Xét chung, từ “áp lực kép” dẫn tới các cuộc sàng lọc, làm cho nông hộ nhỏ khó tránh khỏi chuyện chùn bước. Để tự cứu mình họ cần phải thay đổi trong tư duy sản xuất và tăng liên kết theo chuỗi giá trị nông sản để không phải gánh chịu thiệt thòi.
Thế Vinh

Hơn 120.000 tỷ đồng bơm cho ngân hàng để "cứu" thanh khoản cận Tết
Lãi kỷ lục nhờ doanh thu tài chính, Địa ốc Hoàng Quân vẫn nợ hơn 6,4 tỷ đồng tiền BHXH
Giá vàng trong nước tăng sốc hơn 10 triệu đồng/lượng
PVcomBank: Lợi nhuận tăng mạnh, tín dụng vẫn chịu áp lực

Giá nhà quá cao, doanh nghiệp địa ốc ôm núi tồn kho
Tay to vẫn rót tiền mạnh cho nhà đất vùng lõi bất chấp giá ‘đỉnh nóc’, thanh khoản ì ạch
Chưa thể ngăn dòng tiền lướt sóng bất động sản ‘cuồn cuộn chảy’
Nghịch lý tại Nam Long: Tồn kho giảm nhưng doanh thu, lợi nhuận đi lùi
Chi tiết về 'mục tiêu thế kỷ' tái thiết đô thị Hà Nội, đưa thu nhập bình quân lên 100 nghìn USD/năm
Quy hoạch tổng thể – Tầm nhìn phát triển đột phá đến năm 2065, tầm nhìn 2100.
Đừng bỏ lỡ
HTX nông nghiệp nâng tầm giá trị nông sản địa phương
Trong bối cảnh sản xuất nông nghiệp còn manh mún, đầu ra thiếu ổn định, nhiều HTX nông nghiệp trên địa bàn tỉnh Cao Bằng đang từng bước khẳng định vai trò “bà đỡ” cho nông sản địa phương.






























