VnBusiness

VnBusiness

VnBusiness

Tiêu điểm

Mỹ siết MMPA, COA và thuế chống bán phá giá: Xuất khẩu thủy sản đối mặt “cơn gió ngược” lớn

Mỹ siết MMPA, COA và thuế chống bán phá giá: Xuất khẩu thủy sản đối mặt “cơn gió ngược” lớn

Nhiều tầng rào cản tại Mỹ đang dần lộ rõ tác động khiến xuất khẩu thủy sản vào đây giảm gần 10% trong tháng 1/2026 và có thể giảm tiếp vào tháng 2. Điều này đang cần các doanh nghiệp tiếp tục xoay trục thị trường để vượt “cơn gió ngược”.

Như dự báo mới đưa ra từ Hiệp hội Chế biến và Xuất khẩu thủy sản (Vasep), xuất khẩu (XK) thủy sản trong tháng 2/2026 có thể sẽ giảm so với tháng 1/2026. Và một số nguyên nhân chính phải kể đến tác động rõ hơn từ kết quả thuế chống bán phá giá tôm tại Mỹ sau ngày 17/2/2026. Cùng với đó là những vướng mắc tại Mỹ trong thực thi quy định MMPA (Đạo luật Bảo vệ động vật biển có vú) và cấp COA tiếp tục ảnh hưởng đến XK cá ngừ và các loài hải sản khác.

Nhiều tầng rào cản cùng lúc siết chặt

Nhìn vào tình hình XK thủy sản vào Mỹ trong tháng đầu của năm 2026 sẽ thấy bức tranh rào cản chính sách đang dần bộc lộ rõ. Như số liệu của Vasep, thị trường Mỹ trong tháng 1 chỉ đạt hơn 96 triệu USD, giảm 9,9% so với cùng kỳ năm trước. 

Tác động dần hiện rõ trong thực thi quy định MMPA ở Mỹ đang ảnh hưởng lớn đến hoạt động đánh bắt hải sản của Việt Nam.
Tác động dần hiện rõ trong thực thi quy định MMPA ở Mỹ đang ảnh hưởng lớn đến hoạt động đánh bắt hải sản của Việt Nam.

Sự sụt giảm này tập trung rõ ở nhóm cá ngừ. XK cá ngừ trong tháng 1 vừa qua chỉ đạt khoảng 57 triệu USD, giảm 14% so với cùng kỳ năm trước, nguyên do là vì chịu tác động trực tiếp từ những vướng mắc về MMPA và COA tại Mỹ.

Bà Lê Hằng, Phó tổng thư ký Vasep, chỉ rõ nguyên nhân chính là tác động từ quy định MMPA. Việc thực thi Thông tư 74/2025 của Bộ Nông nghiệp và Môi trường liên quan đến cấp COA (Certificate of Admissibility) đang phát sinh nhiều bất cập, khiến quá trình xác nhận hồ sơ bị đình trệ, làm gián đoạn đáng kể hoạt động XK cá ngừ và các hải sản khác sang Mỹ ngay từ đầu năm.

Có nhìn vào tình cảnh sụt giảm XK như kể trên mới thấy rào cản vào thị trường Mỹ gia tăng đang tiếp tục làm khó các doanh nghiệp (DN) XK thủy sản. Nhất là khi Cục Quản lý Đại dương và Khí quyển quốc gia Mỹ (NOAA) dựa theo MMPA đã thông báo có 240 nghề cá của 46 quốc gia bị từ chối công nhận tương đương, đồng nghĩa sản phẩm từ các nghề cá này sẽ không được phép nhập khẩu vào Mỹ kể từ ngày 1/1/2026, trong đó Việt Nam có 12 nghề cá “không tương đương” (bao gồm cá mú, cua ghẹ, tôm hùm, cá ngừ, cá nục... đánh bắt bằng lưới rê, lưới kéo).

Và rào cản này đã thể hiện rõ ngay trong tháng 1/2026, tác động đáng kể tới xuất khẩu thủy sản Việt Nam, khi Mỹ từng là thị trường lớn nhất. Dựa trên quy định của NOAA, thời gian tới rất khó khăn cho các DN Việt để tiếp tục XK các hàng hải sản khai thác có nguồn gốc nhập khẩu vào Hoa Kỳ. Đây là một vấn đề nghiêm trọng, bởi lẽ nguồn nguyên liệu hải sản nhập khẩu đang duy trì năng lực cung ứng và chế biến tuyệt đối của Việt Nam.

Chưa kể, một mối lo lớn khác là các nguyên liệu đang có sẵn trong kho của DN (mua trước khi Đạo luật MMPA áp dụng) không thể có giấy COA, nhưng chưa có hướng dẫn nào từ NOAA về vấn đề này.

Ngoài vấn đề liên quan MMPA làm ảnh hưởng nghiêm trọng mảng XK hải sản thì XK tôm vào Mỹ cũng cho thấy sẽ tiếp tục đối mặt rào cản lớn. Bà Lê Hằng cho biết đối với tôm XK sang Mỹ, nhiều DN đã chủ động giao hàng sớm trong tháng 1/2026 nhằm giảm rủi ro trước thời điểm công bố kết quả thuế Chống bán phá giá (CBPG) vào ngày 17/2/2026. Nhờ đó, kim ngạch tôm sang Mỹ chưa giảm sâu trong tháng đầu năm nay, nhưng điều này đồng nghĩa với việc áp lực sẽ dồn sang các tháng tiếp theo.

Việc Mỹ siết phòng vệ thương mại khiến cho tôm Việt Nam đi Mỹ đối mặt nhiều áp lực trong năm nay. Nhất là nhiều tầng rào cản cùng lúc siết hoạt động XK. Bởi lẽ, bên cạnh thuế CBPG, tôm Việt Nam còn chịu tác động từ thuế đối ứng. Thuế chồng thuế khiến chi phí tuân thủ và giá bán thực tế tăng cao, buộc doanh nghiệp phải điều chỉnh chiến lược XK cũng như đàm phán lại với nhà nhập khẩu Mỹ.

Giới chuyên gia dự báo bức tranh XK tôm trong quý 1/2026 sẽ không mấy sáng sủa khi DN đối mặt áp lực lớn từ thuế, chi phí tuân thủ và tình hình sản xuất trong nước nhiều khó khăn. Trong đó, rủi ro thuế CBPG ở Mỹ là yếu tố có ảnh hưởng lớn nhất đến triển vọng thị trường.

Xoay trục thị trường để vượt “cơn gió ngược”

Vấn đề đặt ra là khi rào cản chính sách tại Mỹ đang dần bộ lộ rõ tác động thì các DN cần hành động ứng phó gì để giảm thiểu rủi ro. Điều này cũng cần nhìn nhận lại những gì đã làm được như hồi năm 2025. Như nhận xét của Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường Phùng Đức Tiến, đó là khả năng thích ứng cực nhanh của DN.

“Khi thị trường Hoa Kỳ có sự biến động, chúng ta đã ngay lập tức “xoay trục” sang thị trường Trung Quốc, và đặc biệt thị trường Châu Âu và Châu Phi - 2 thị trường đều ghi nhận tốc độ tăng trưởng mạnh về XK”, ông Tiến nói.

Và trước rào cản chính sách ở Mỹ, việc tiếp tục “xoay trục” sang thị trường Trung Quốc trong năm 2026 này là điều mà các DN thủy sản có thể làm. Như với XK tôm, khi thị trường Trung Quốc đang dịch chuyển sang tiêu dùng chất lượng cao hơn, đây chính là phân khúc phù hợp để tôm Việt Nam củng cố vị thế.

Với Trung Quốc, lợi thế của Việt Nam nằm ở khả năng chế biến, sự linh hoạt sản phẩm và các dòng tôm cao cấp. Từ đà tăng trưởng và lợi thế về địa lý, logistics cũng như kinh nghiệm chế biến, tôm Việt Nam có cơ hội để mở rộng thị phần ở thị trường lớn này. Tuy nhiên, các DN cần tiếp tục  nâng giá trị gia tăng, đẩy mạnh sản phẩm cao cấp và xây dựng quan hệ trực tiếp với hệ thống phân phối tại Trung Quốc.

Ngoài ra, để giảm dần tác động từ Mỹ thì việc tiếp tục đa dạng thị trường trong thời gian tới là rất cần thiết. Như gợi ý của Thứ trưởng Bộ Ngoại giao Nguyễn Minh Hằng, ngoài việc tiếp tục củng cố các thị trường truyền thống thì các DN cần khai phá mạnh mẽ các khu vực tiềm năng như Trung Đông, Châu Phi, thị trường Halal và Nam Mỹ.

Bà Hằng cũng đề xuất chiến lược cho các DN thủy sản là cần nghiên cứu hướng đầu tư sản xuất tại các nước đối tác (như khu vực Trung Đông) để tận dụng nguồn nguyên liệu và tối ưu chi phí, XK trực tiếp tại thị trường sở tại.

Nói chung, trước rào cản chính sách ở Mỹ, bức tranh XK thủy sản trong thời gian tới có sáng sủa hay không đang tùy thuộc vào khả năng thích ứng linh hoạt của các DN Việt nhằm vượt qua “cơn gió ngược”.

Điều quan trọng là các DN cần duy trì nhịp sản xuất, mở rộng và giữ vững thị trường, cũng như nâng cao chất lượng, đa dạng hóa sản phẩm và tăng giá trị gia tăng. Lẽ đương nhiên là các DN cần tiếp tục củng cố uy tín của thủy sản Việt trên thị trường thế giới.

Song song đó, các cơ quan quản lý cần có nhiều hoạt động hỗ trợ hơn nữa để giúp DN mở rộng thị trường và nâng năng lực cạnh tranh, gắn với truyền thông, xúc tiến thương mại, vượt rào cản, kết nối chuỗi, và cập nhật kịp thời các yêu cầu mới của thị trường.

Thế Vinh

VnBusiness