VnBusiness

VnBusiness

VnBusiness

Việt Nam

Xuất khẩu: Lượng tăng không bù được giá giảm

Xuất khẩu: Lượng tăng không bù được giá giảm

Lâu nay, nhiều mặt hàng dù lượng xuất khẩu tăng khá cao nhưng giá xuống thấp, khiến giá trị xuất khẩu không đạt được mức tăng tương ứng. Năm 2016, qua khảo sát các nhóm hàng xuất khẩu chủ lực như: dầu thô, gạo, sắn và các sản phẩm từ sắn, than đá, clinker và xi măng, quặng và khoáng sản, xăng dầu, hạt tiêu, xơ, sợi dệt, sắt thép các loại, cà phê, Tổng cục Hải quan cho biết, nhiều sản phẩm kim ngạch tăng do lượng tăng nhưng không bù được phần kim ngạch giảm do giá giảm.

Về tăng giảm lượng, trong những nhóm ngành nêu trên có 6 mặt hàng tăng do sản lượng là quặng và khoáng sản, xăng dầu, hạt tiêu, xơ sợi, sắt thép và cà phê với mức tăng 3,5 tỷ USD; 3 nhóm hàng giảm do sản lượng là dầu thô, sắn và sản phẩm từ sắn, clinker và xi măng với giá trị giảm gần 1,1 tỷ USD. Tổng mức tăng giảm do lượng chỉ đạt khoảng 2,4 tỷ USD.

Tuy nhiên, cả 6 mặt hàng tăng giá trị sản lượng trên đều giảm kim ngạch do giá giảm với mức giảm gần 1,79 tỷ USD. Bên cạnh đó, 6 nhóm hàng khác giảm kim ngạch xuất khẩu là do cả giá và lượng, với tổng mức giảm 2,4 tỷ USD.

Giá thấp,xuất nhiều, tiền ít

Như vậy, tổng giảm do cả lượng và giá gần 4,2 tỷ USD. 12 sản phẩm xuất khẩu trọng điểm trên có mức thâm hụt khoảng 1,8 tỷ USD.

Sang năm 2017, đối với xuất khẩu gạo, theo Bộ NN&PTNT, khối lượng xuất khẩu gạo tháng 2/2017 ước đạt 462 nghìn tấn, giá trị 104 triệu USD, đưa khối lượng xuất khẩu gạo hai tháng đầu năm 2017 ước đạt 799 nghìn tấn và 248 triệu USD, giảm 17,2% về khối lượng và giảm 40,6% về giá trị so với cùng kỳ năm 2016.

Giá gạo xuất khẩu bình quân tháng 1/2017 đạt 428 USD/tấn, giảm 3,4% so với cùng kỳ năm 2016. Tiếp đó, theo Bộ Công Thương, đến tháng 2/2017, giá bình quân đạt 427,51 USD/tấn, giảm 5 – 10 USD/tấn so với cùng kỳ năm trước.

Xuất khẩu xi măng và clinker tháng 1/2017 đạt 1,31 triệu tấn, kim ngạch 47,9 triệu USD, tăng 3,2% về lượng nhưng giảm 5,2% về giá trị. So với cùng kỳ năm ngoái, xuất khẩu xi măng và clinker giảm 11,2% về lượng và giảm 12% kim ngạch.

Ước tính xuất khẩu xi măng và clinker trong tháng 2/2017 đạt khoảng 1,25 triệu tấn, giảm 0,006 triệu tấn so với tháng trước nhưng tương đương so với cùng kỳ năm ngoái.

Theo thống kê, trong năm 2016, Bangladesh đã nhập 4,7 triệu tấn xi măng và clinker của Việt Nam, nhưng chỉ với kim ngạch 141 triệu USD. Như vậy, giá nhập khẩu xi măng và clinker Việt Nam của Bangladesh trung bình có 30 USD/tấn.

Phân tích về thị trường cho thấy, trong xuất khẩu, giá đóng vai trò quyết định đem tới giá trị thực cho các mặt hàng xuất khẩu của Việt Nam. Nhiều mặt hàng dù xuất khẩu nhiều nhưng giá thấp cũng không đem lại trị giá lớn.

Trên thực tế, hầu hết các mặt hàng xuất khẩu của Việt Nam đều bị trả giá thấp. Theo thống kê của Viện Nghiên cứu thương mại (Bộ Công Thương), năng lực cạnh tranh của hàng Việt Nam trên thị trường thế giới còn yếu, khoảng 90% nông sản xuất khẩu dạng thô hoặc sơ chế, chất lượng thấp, chưa có thương hiệu.

Các mặt hàng công nghiệp chế biến, chế tạo chủ yếu là gia công, lắp ráp cho nước ngoài, hầu hết chưa có thương hiệu, phần lớn giá hàng hóa xuất khẩu của Việt Nam buộc phải duy trì thấp hơn các đối thủ cạnh tranh.

VnBusiness

Bao giờ hàng xuất khẩu Việt mới chấm dứt tình trạng phải hạ giá để cạnh tranh

Hàng Việt chỉ có giá rẻ?

Chẳng hạn, gạo Việt Nam giá bán luôn thấp hơn gạo cùng loại của Thái Lan 3 – 5%. Thậm chí, có những loại gạo Thái Lan bán với giá 800 USD/tấn, trong khi gạo của Việt Nam chỉ bán được bằng một nửa, 400 USD/tấn.

Nhiều sản phẩm khác của Việt Nam cũng phải xuất khẩu với giá rẻ, như thông tin cà phê thô Việt Nam xuất khẩu chỉ 2 USD/kg nhưng khi Starbucks mua về và xử lý, dán nhãn của thương hiệu này, lợi nhuận lên tới hơn 100 lần, tương đương 200 USD/kg.

Mấy năm gần đây, giá xuất khẩu cá tra liên tục sụt giảm. Nếu như năm 2002, giá xuất khẩu trung bình của sản phẩm cá tra là 3,11 USD/kg, nay chỉ còn 2,1 – 2,3 USD/kg. Cá tra Việt Nam hiện chiếm hơn 90% thị phần thế giới song giá bán thấp hơn 20 – 30% sản phẩm tương tự.

Những tưởng đây sẽ là lợi thế cạnh tranh nhưng thực tế, cá tra Việt Nam đang đối mặt với việc mất cả “tiền lẫn tiếng” khi nhiều chiến dịch truyền thông “bẩn” được thực hiện nhằm bôi xấu cá tra Việt Nam bằng các thông tin sai sự thật về chất lượng cá tra Việt Nam. Gần 10 năm qua, cá tra Việt Nam luôn phải cạnh tranh không lành mạnh, đối mặt với nhiều chiêu thức bôi nhọ như vậy.

Không riêng gì cá tra, cả ngành thủy sản Việt Nam cũng đang rơi vào thực trạng xuất khẩu thủy sản đạt mức tăng trưởng khá, song phần lớn chỉ tăng về lượng, chưa tăng nhiều về chất, khả năng đáp ứng được các quy định về quy tắc xuất xứ, truy xuất nguồn gốc, tiêu chuẩn chất lượng và môi trường theo cam kết của các hiệp định thương mại tự do.

Xuất khẩu các sản phẩm từ tôm, cá tra nhìn chung còn đơn điệu, chủ yếu là sản phẩm đông lạnh dạng phi lê, nguyên con hoặc cắt khúc (chiếm hơn 95%). Hơn nữa, các doanh nghiệp Việt Nam vẫn phải gia tăng nhập khẩu nguyên liệu đầu vào phục vụ sản xuất và chế biến xuất khẩu, dẫn đến tình trạng giảm sút năng lực cạnh tranh về giá.

Một chuyên gia bình luận: “Hàng thủy sản Việt Nam chưa có thương hiệu riêng và phải xuất khẩu ủy thác hoặc qua trung gian là chủ yếu, bị nhà nhập khẩu đưa ra các rào cản thương mại và ép giá, gây thiệt hại đáng kể cho các doanh nghiệp xuất khẩu”.

Nói rộng ra là nhiều mặt hàng xuất khẩu của Việt Nam không biết làm thương hiệu. Theo bà Phùng Thị Vân Kiều, Viện Nghiên cứu thương mại, năng lực cạnh tranh của hàng xuất khẩu chậm được cải thiện, nhất là các mặt hàng chế biến, chế tạo.

Hiện, Việt Nam vẫn phải gia tăng nhập khẩu nguyên phụ liệu đầu vào phục vụ sản xuất hàng xuất khẩu làm tăng giá thành sản phẩm, giảm khả năng cạnh tranh của hàng xuất khẩu.

Lê Thúy

PGs.Ts. Doãn Kế Bôn - Trường Đại học Thương mại

Khả năng cạnh tranh hàng hóa xuất khẩu của Việt Nam chưa cao. Mặc dù xuất khẩu sang thị trường các nước phát triển, nhưng hàng hóa của Việt Nam chủ yếu chiếm ở phân khúc thị trường giá thấp và trung bình. Trong khi đó, khả năng đổi mới mặt hàng, nhất là tạo ra các sản phẩm có đặc tính mới, với từng khu vực thị trường của các doanh nghiệp Việt Nam còn hạn chế. Chất lượng của sản phẩm còn thấp và không đồng đều.

Bà Phùng Thị Vân Kiều - Viện Nghiên cứu thương mại, Bộ Công Thương

Nỗ lực để đổi từ lượng sang chất, từ manh mún sang tập trung, từ thô sang tinh… rất chậm. Nói cách khác, vẫn có gì xuất nấy mà thiếu chiến lược xuất khẩu được xây dựng dựa trên lợi thế so sánh với năng suất lao động cao và chiếm vai trò chủ động trong chuỗi giá trị toàn cầu.

Ts. Sergut Zorya - Chuyên gia về nông nghiệp của Ngân hàng Thế giới

Hầu hết nông sản của Việt Nam được bán dưới dạng thô với giá thấp hơn so với các đối thủ cạnh tranh. Thậm chí, nông sản thô giá rẻ của Việt Nam được pha trộn với mặt hàng của các quốc gia khác để tạo ra thành phẩm đem bán dưới các thương hiệu quốc tế.

}
VnBusiness