VnBusiness

VnBusiness

VnBusiness
VnBusiness

Việt Nam

Thủy sản quyết làm lớn, hướng tới 20 tỷ USD vào 2030

Thủy sản quyết làm lớn, hướng tới 20 tỷ USD vào 2030

Ngành thủy sản đang đặt mục tiêu đến năm 2030, giá trị kim ngạch xuất khẩu đạt 18-20 tỷ USD. Mục tiêu này sẽ được hiện thực hóa ra sao trong bối cảnh ngành vẫn đang đối mặt với nhiều khó khăn, thách thức như nuôi trồng nhỏ lẻ, bị EU phạt thẻ vàng, giá thành sản xuất cao...

Bộ NN&PTNT cho biết đang xây dựng chiến lược phát triển thủy sản Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045. Dự thảo đặt mục tiêu đến năm 2030, tổng sản lượng thủy sản đạt 10 triệu tấn. Trong đó, sản lượng khai thác thủy sản khoảng 25-30%, sản lượng nuôi trồng thủy sản khoảng 70-75%.

Nuôi trồng nhỏ lẻ, giá thành sản xuất cao 

Giá trị kim ngạch xuất khẩu thủy sản đạt 18-20 tỷ USD. Trong đó, xuất khẩu tại chỗ, thông qua du lịch và khách quốc tế khoảng 1,3 tỷ USD. 100% cơ sở sản xuất kinh doanh thủy sản bảo đảm an toàn vệ sinh thực phẩm và các quy chuẩn bảo vệ môi trường.

Ngành tôm theo đuổi mục tiêu đạt kim ngạch xuất khẩu 10 tỷ USD vào 2025.
Ngành tôm theo đuổi mục tiêu đạt kim ngạch xuất khẩu 10 tỷ USD vào 2025.

Tầm nhìn đến năm 2045, thủy sản là ngành sản xuất hàng hóa lớn có trình độ quản lý, khoa học công nghệ hiện tại, tuân thủ nghiêm ngặt các định chế quốc tế, là trung tâm chế biến thủy sản chất lượng cao khu vực ASEAN và châu Á, thuộc nhóm 3 nước sản xuất và xuất khẩu thủy sản dẫn đầu thế giới.

Tuy vậy, để đạt được mục tiêu trên, ngành thủy sản cũng cần nhìn thẳng vào thực trạng hiện nay. Ông Trần Văn Lĩnh, Chủ tịch HĐQT Công ty Thuận Phước cho biết, do chưa có quy hoạch cụ thể trong phát triển vùng nguyên liệu nên các doanh nghiệp thủy sản gặp rất nhiều khó khăn trong việc tìm kiếm nguồn nguyên liệu đáp ứng được các tiêu chuẩn, quy chuẩn. Quan trọng hơn, thủy sản chủ yếu nuôi trồng nhỏ lẻ nên giá thành cao hơn nhiều nước. Ví dụ, mặt hàng tôm nguyên liệu của Việt Nam cao hơn Ấn Độ tới 12%.

Trong khi đó, ông Lê Văn Quang, Chủ tịch HĐQT Công ty cổ phần Tập đoàn Thủy sản Minh Phú chỉ ra thực tế ngành tôm nuôi nhỏ lẻ, tập trung ở vùng ven biển, nước ngập mặn. Do nuôi lẻ, sản lượng ít, quãng đường vận chuyển xa đã đẩy chi phí sản xuất lên cao. Theo đó, doanh nghiệp rất mong được Nhà nước hỗ trợ để xây dựng những trung tâm đảm nhiệm khâu thu mua nguyên liệu, đồng thời cũng là nơi phân phối thức ăn thủy sản, vật tư nông nghiệp ở các vùng nguyên liệu.

Những bất cập của ngành thủy sản cũng được Bộ NN&PTNT chỉ rõ khi đánh giá về hiệu quả thực hiện chiến lược phát triển thủy sản Việt Nam đến năm 2020. Cụ thể, năm 2019, thủy sản Việt Nam chiếm 6,2% tổng sản lượng thủy sản châu Á, 4,4% tổng sản lượng và 5,5% giá trị kim ngạch xuất khẩu thủy sản toàn cầu. Về giá trị kim ngạch xuất khẩu, thủy sản Việt Nam đứng thứ 3 thế giới.

Tuy vậy, các đối tượng chủ lực sản xuất hàng hóa lớn là tôm, cá tra, cá ngừ đại dương có năng suất cao, sản lượng lớn nhưng chưa đạt chất lượng cao và chưa xây dựng được thương hiệu uy tín. Khả năng cạnh tranh của các sản phẩm còn hạn chế do giá thành sản xuất cao nên giá xuất khẩu cao hơn 1-2 USD/kg, so với sản phẩm cùng loại của các nước khác trên thị trường quốc tế.

Riêng cá tra Việt Nam từng chiếm vị thế độc tôn, chiếm tới 98-99% thị phần suốt 20 năm trên thị trường quốc tế nhưng đến nay một số nước như Ấn Độ, Indonesia, Bangladesh... đã phát triển nuôi cá tra, đẩy thị phần cá tra Việt Nam giảm sâu, chỉ còn chiếm 52% sản lượng và 70% thị phần toàn cầu.

Phấn đấu thành cường quốc chế biến

Mặt khác, khi hội nhập sâu rộng, thủy sản Việt Nam đã bộc lộ những bất cập trong quản lý, trong chính sách. 10 năm qua, thủy sản Việt Nam đã phải ứng phó với các rào cản thuế quan ở thị trường Hoa Kỳ, rào cản kỹ thuật về an toàn vệ sinh thực phẩm ở thị trường EU, Trung Quốc. Hàng thủy sản xuất khẩu năm nào cũng có những lô bị trả về đã ảnh hưởng lớn đến hình ảnh, thương hiệu, uy tín của sản phẩm thủy sản Việt Nam trên thị trường quốc tế. "Cảnh báo thẻ vàng" của EU là sự cảnh tỉnh về những hạn chế trong hội nhập kinh tế quốc tế.

Trước thực tế trên, PGS.TS Phan Thị Vân, Viện trưởng Viện Nghiên cứu Nuôi trồng Thủy sản I, cho rằng chiến lược mới của ngành thủy sản cần phải định rõ sản phẩm mũi nhọn trong giai đoạn tới là gì, tiếp tục là sản phẩm tôm sú, tôm thẻ chân trắng, cá tra nữa hay không. Đồng thời cần tính tới phương thức sản xuất, canh tác bao nhiêu phần trăm là nuôi hữu cơ.

"Làm thế nào để ngành thủy sản Việt Nam không phải là công xưởng sản xuất nguyên liệu thô mà thế giới phải biết đến chúng ta là cường quốc chế biến thủy sản, xuất khẩu có giá trị gia tăng cao hơn", bà Vân nói.

Ông Thái Thanh Bình, Phó Hiệu trưởng Trường Cao đẳng kinh tế, kỹ thuật và thủy sản, đánh giá hiện nay việc xây dựng thương hiệu thủy sản của Việt Nam rất kém, chỉ số ít sản phẩm có chỉ dẫn địa lý rõ ràng. Đây là vấn đề phải đẩy mạnh trong thời gian tới , để khi nói đến thủy sản là thế giới phải nhắc tới Việt Nam, biết chúng ta có những thương hiệu nào đặc trưng.

Ông Bình gợi ý nên chăng Việt Nam xây dựng những thước phim ngắn, giới thiệu về quy trình nuôi, chế biến thủy sản của mình. Từ đó, quảng bá tới các khách hàng trên thế giới. Hay xây dựng những câu chuyện về ngành thủy sản cũng là ý tưởng không tồi.

Thứ trưởng Bộ NN&PTNT Phùng Đức Tiến nhìn nhận những thực tế trên đang là rào cản trong phát triển ngành thuỷ sản Việt Nam. Nói với Thời báo Kinh Doanh, ông cho biết trong thời gian qua hàng chục nghìn doanh nghiệp tham gia xuất khẩu, chế biến thủy sản nhưng mô hình sản xuất của ngành chủ yếu ở hộ gia đình nên còn manh mún, nhỏ lẻ. Điều này đặt ra thách thức trong việc đảm bảo an toàn sinh học, tiêu chuẩn, quy chuẩn, dẫn đến nguyên liệu vào nhà máy không đồng đều kể cả chất lượng, kích thước.

Thứ trưởng Bộ NN&PTNT khẳng định những vấn đề này sẽ được giải quyết trong chiến lược phát triển thủy sản Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045. "Chúng tôi sẽ rà soát lại hết các nút thắt trong ngành như đầu tư hạ tầng, chất lượng con giống, chế biến, thu hoạch... ở từng ngành hàng", ông Tiến khẳng định.

Nhật Linh 

}

Ba ba gai Cát Thịnh “mỏ vàng” mới từ kinh tế ao nuôi

Dưới những ao nuôi được kè bờ chắc chắn ở thôn Văn Hưng, xã Cát Thịnh, tỉnh Lào Cai, những con ba ba gai thương phẩm đang được HTX Chăn nuôi ba ba gai Cát Thịnh chăm sóc cẩn trọng. Mỗi con có giá từ 3 đến 5 triệu đồng, chưa kể hàng vạn con giống...

VnBusiness