Tiềm năng tài nguyên thiên nhiên và văn hóa của Việt Nam không thua kém bất kỳ quốc gia nào, song ngành du lịch vẫn kém cạnh tranh hơn nhiều nước trong khu vực như Singapore, Thái Lan... Nguyên nhân là do chính sách chưa đi vào thực tiễn, nguồn chi từ ngân sách cho phát triển triển du lịch chưa thỏa đáng.
Ts. Trần Hoàng Ngân, Đoàn đại biểu Quốc hội Tp.HCM, thành viên Tổ tư vấn kinh tế của Thủ tướng, chia sẻ với Thời báo Kinh Doanh điều này khi nhìn nhận thực trạng ngành du lịch Việt Nam.
Thưa ông, ngành du lịch Việt Nam đã có những bước phát triển như thế nào trong thời gian qua và còn có hạn chế nào đang cản trở?
Thời gian qua, khách du lịch quốc tế đến Việt Nam tăng trưởng cao. Năm 2016, lượng khách quốc tế đến Việt Nam đạt trên 10 triệu lượt, tăng 26% so với năm 2015; năm 2017 đạt 12,9 triệu lượt, tăng 29,1%. Giai đoạn 2015-2017, lượng khách quốc tế đã tăng 1,63 lần, đạt tốc độ tăng trưởng bình quân 28%/năm.
Đặc biệt, Báo cáo năng lực cạnh tranh du lịch toàn cầu năm 2017 của Diễn đàn Kinh tế Thế giới cho thấy du lịch Việt Nam đã có cải thiện nhất định về thứ bậc trên bảng xếp hạng, từ hạng 75/141 quốc gia được đánh giá trong năm 2015 lên 67/136 quốc gia được đánh giá trong năm 2017.
Tuy nhiên, so với tiềm năng phát triển, ngành du lịch vẫn còn nhiều hạn chế. Tài nguyên thiên nhiên và văn hóa của Việt Nam không thua kém bất kỳ quốc gia nào, nhưng chúng ta vẫn khó cạnh tranh trong thu hút khách du lịch quốc tế với nhiều quốc gia trong khu vực.
Cụ thể, năm 2017, Thái Lan thu hút trên 29 triệu du khách quốc tế. Hay Singapore không có tiềm năng gì đặc biệt nhưng đã biết "biến cái không có thành cái có thể", là điểm đến lý tưởng mà nhiều du khách quốc tế muốn tới, trong đó có cả du khách người Việt.
Ts. Trần Hoàng Ngân, đại biểu Quốc hội Tp.HCM
Vì sao năng lực cạnh tranh của Việt Nam lại kém?
Nghị quyết 08-NQ/ TW của Bộ Chính trị ban hành vào đầu năm 2017 nêu rõ phát triển du lịch trở thành ngành kinh tế mũi nhọn, là định hướng chiến lược quan trọng để phát triển đất nước, tạo động lực thúc đẩy sự phát triển của các ngành, lĩnh vực khác. Tuy nhiên, nhìn vào thực tế, chúng ta vẫn chưa cụ thể hóa được nội dung chính sách này vào thực tiễn.
Tại Bảng xếp hạng của Diễn đàn Kinh tế thế giới, tài nguyên thiên nhiên phát triển du lịch của Việt Nam xếp hạng thứ 28 nhưng chính sách, chiến lược phát triển du lịch bị xếp hạng 105/136 quốc gia.
Điều này đòi hỏi sự tư duy trong chiến lược phát triển du lịch Việt Nam, cụ thể hóa Nghị quyết 08 của Bộ Chính trị về xác định du lịch là ngành kinh tế mũi nhọn.
Cụ thể, chúng ta phải xây dựng và phát triển được sản phẩm du lịch độc đáo. Hiện nay, đa phần khách du lịch chỉ đi tham quan vào giờ hành chính, trong khi đó, xu hướng du lịch của du khách quốc tế là được tham gia các hoạt động cả ngày lẫn đêm. Tuy nhiên, Việt Nam rất thiếu các sản phẩm du lịch từ chiều tối đến sáng sớm. Ẩm thực rất ngon nhưng cách quảng bá vẫn chưa hiệu quả…
Quan trọng nhất là cách tổ chức, tạo sản phẩm, tạo ra các sân chơi gắn với phát triển du lịch. Hoặc các chương trình du lịch đặc biệt như du lịch tâm linh, du lịch nụ cười… Đây là những điều mà Việt Nam hoàn toàn có thể làm được.
Tại Tp.HCM, nhiều công ty du lịch lo lắng việc quá tải của sân bay Tân Sơn Nhất sẽ trở thành điểm nghẽn trong phát triển du lịch?
Các đại biểu Quốc hội của Tp.HCM và đại biểu ở nhiều tỉnh, thành khác đều lên tiếng về vấn đề quá tải của sân bay Tân Sơn Nhất, vì vậy Quốc hội đã có Nghị quyết để đẩy nhanh triển khai Cảng hàng không quốc tế Long Thành (Đồng Nai).
Tuy nhiên, vấn đề ở đây là chúng ta phải tiếp tục dành ngân sách thỏa đáng để nâng cấp mở rộng sân bay Tân Sơn Nhất, trong khi chờ đợi triển khai cụm cảng hàng không sân bay Long Thành (ít nhất phải 7 năm nữa mới hoạt động).
Không riêng Tân Sơn Nhất, hiện nay, bất cập trong hạ tầng giao thông nói chung cũng là điểm nghẽn về phát triển du lịch. Ví dụ khách quốc tế đến Việt Nam trên những du thuyền 5 sao vẫn chỉ được đón tại cảng container. Thậm chí, nhiều hệ thống giao thông đường bộ của Việt Nam khiến du khách sợ hãi.
Bởi vậy, tôi xin nhắc lại khi chúng ta xác định du lịch là ngành kinh tế mũi nhọn thì phải có ngân sách để đầu tư cho ngành du lịch thực hiện các định hướng phát triển về cơ sở hạ tầng. Sắp tới, Chính phủ cần trình Quốc hội một khoản ngân sách dành cho phát triển du lịch.
Mới đây, Việt Nam đã trở thành quốc gia thứ 7 phê chuẩn tham gia Hiệp định Đối tác Toàn diện và Tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP). Ông đánh giá thế nào về tiềm năng phát triển du lịch Việt Nam khi hiệp định này có hiệu lực?
Các quốc gia tham gia Hiệp định CPTPP phần lớn là những nước giàu, có thu nhập bình quân đầu người trên 30.000 USD, điều này sẽ mở ra cơ hội phát triển thương mại, đầu tư của Việt Nam – động lực thúc đẩy du lịch phát triển.
Tuy nhiên, để tận dụng được tiềm năng này, thu hút được lượng khách giàu có này cần có những chính sách phát triển du lịch tốt.
Đồng thời, cần đẩy mạnh xúc tiến, quảng bá thương hiệu du lịch Việt Nam hiệu quả hơn. Xây dựng một chuỗi sản phẩm du lịch, kết nối giữa các vùng miền và các công ty lữ hành với nhau…
Nhìn một cách tổng thể, thời gian tới, ngành du lịch cần phải làm gì, thưa ông?
Tiềm năng phát triển du lịch đã thấy rõ, nhưng để phát triển phải thay đổi nhận thức, xác định du lịch là ngành kinh tế mũi nhọn, là ngành công nghiệp không khói, thêm một chút đầu tư, chuyển đổi sản phẩm tiềm năng thành sản phẩm thực tiễn…, du lịch Việt Nam chắc chắn sẽ phát triển.
Từ những chuyện tưởng chừng đơn giản như hiện nay ở nhiều khu di tích, các công trình vệ sinh rất xuống cấp, tồi tàn, tại sao Nhà nước không dành nguồn kinh phí đầu tư xây dựng các nhà vệ sinh công cộng. Hay cần phải có lực lượng cảnh sát du lịch để đảm bảo an toàn, an ninh cho hành khách…
Tôi cho rằng cần có tư duy, kế hoạch, chiến lược, chính sách phát triển du lịch đúng tầm với tài nguyên thiên nhiên và văn hóa mà Việt Nam có. Đặc biệt, trong bối cảnh nền công nghiệp phần lớn do khối ngoại chi phối, ngành du lịch sẽ là cái của mình, là cái ở lại trong nước để tăng cường nội lực cho nền kinh tế Việt Nam.
Mục tiêu sản xuất tới 500.000 tấn hydrogen vào năm 2030 không nằm ngoài tầm với của Việt Nam. Điều còn thiếu, theo TS. Nguyễn Hữu Lương, là những chính sách đủ mạnh để hình thành thị trường, phát triển hạ tầng và kéo dòng vốn vào toàn bộ chuỗi giá trị hydrogen.
Ông Nguyễn Văn Diện – Phó Cục trưởng Cục Lâm nghiệp và Kiểm lâm (Bộ Nông nghiệp và Môi trường) chia sẻ, để nâng cao sức cạnh tranh trong dài hạn, ngành gỗ cần đẩy mạnh phát triển rừng gỗ lớn và tăng cường liên kết giữa doanh nghiệp, HTX với người trồng rừng.
Áp lực về năng suất, chi phí sản xuất, truy xuất nguồn gốc và các tiêu chuẩn an toàn thực phẩm đang buộc ngành chăn nuôi phải đẩy nhanh ứng dụng công nghệ và tăng cường liên kết chuỗi.
Trong bối cảnh ngành xây dựng đứng trước áp lực ngày càng lớn từ các tiêu chuẩn xanh, ESG và mục tiêu giảm phát thải, doanh nghiệp không chỉ cần đổi mới công nghệ mà còn phải thay đổi tư duy quản trị.
Giá sầu riêng giảm ngay trước vụ thu hoạch lớn nhất năm không đơn thuần là biến động mùa vụ. Theo chuyên gia, ngành sầu riêng Việt Nam đang bước vào giai đoạn sàng lọc mạnh mẽ, khi tăng diện tích không còn là lợi thế, còn chất lượng, truy xuất nguồn gốc và khả năng đáp ứng tiêu chuẩn xuất khẩu mới quyết định ai có thể tồn tại.
Mặc dù lạm phát đang là tâm điểm chú ý của dư luận, nhưng theo TS. Cấn Văn Lực - chuyên gia kinh tế, việc quá tập trung vào một chỉ số duy nhất có thể khiến chúng ta bỏ qua những rủi ro mang tính cấu trúc, những nút thắt trong vòng quay tiền tệ và cả những thách thức từ địa chính trị thế giới cực kỳ phức tạp...
Với 366 HTX đang hoạt động, kinh tế tập thể đang ngày càng khẳng định vai trò trong phát triển kinh tế - xã hội tại Lai Châu. Từ nguồn vốn hỗ trợ đến ứng dụng công nghệ, chuyển đổi số và phát triển sản phẩm đặc trưng, nhiều HTX đang tạo việc làm,...