VnBusiness

VnBusiness

VnBusiness
VnBusiness

Việt Nam

FTA chỉ có lợi khi phát triển được công nghiệp chế biến

FTA chỉ có lợi khi phát triển được công nghiệp chế biến

Gần 84% trong tổng số 3.500 doanh nghiệp (DN) công nghiệp chế biến mà Tổng cục Thống kê khảo sát mới đây đã bày tỏ sự ủng hộ, hiểu biết các hiệp định thương mại tự do (FTA). Tuy nhiên, trong bối cảnh mà các DN FDI đang “bao sân” lĩnh vực này, còn các DN nội vẫn gặp nhiều khó khăn và thiếu căn cơ, thì việc ủng hộ các FTA không thể chỉ nói suông.

Nhìn vào số liệu khảo sát của Tổng cục Thống kê về mức độ sẵn sàng tham gia hội nhập quốc tế của các DN ngành công nghiệp chế biến, chế tạo, ắt hẳn nhiều người sẽ cho rằng sự quan tâm với các FTA là rất lớn. Trong số 3.500 DN được hỏi, có tới 94,5% DN cho biết họ biết đến một hoặc nhiều FTA mà Việt Nam đã tham gia. Chỉ có 5,5% DN không biết đến bất kỳ hiệp định nào.

Biết FTA, rồi sao nữa?

Con số này có vẻ tiến triển hơn so các cuộc thăm dò trước đây về sự lơ là hiểu biết của DN (nhất là DN nội địa còn khá mơ hồ) với các FTA. Điều đáng kể, theo kết quả khảo sát của Tổng cục Thống kê là khu vực DN nhà nước có tỷ lệ DN biết đến các loại hiệp định thương mại khá cao ở hầu hết các loại hiệp định, cụ thể 92,9% DN biết đến TPP; có 92,4% DN biết đến Hiệp định Cộng đồng kinh tế ASEAN (AEC). Khu vực DN ngoài nhà nước có 83,4% DN biết đến AEC; 81,1% DN biết đến TPP.

Báo cáo gần đây của Bộ Công Thương, tình hình tiêu thụ của ngành công nghiệp chế biến chế tạo tiếp tục duy trì xu hướng tăng. Riêng nửa đầu năm nay, chỉ số sản xuất công nghiệp (IIP) của nhóm ngành công nghiệp chế biến chế tạo có mức tăng trưởng khả quan 10,1% (cao hơn so với cùng kỳ năm trước là 10%).

Tuy vậy, theo số liệu của Tổng cục Thống kê, bình quân nửa đầu năm 2016, tỷ lệ tồn kho toàn ngành công nghiệp chế biến, chế tạo là 70%, trong đó một số ngành có tỷ lệ tồn kho cao như sản xuất kim loại đúc sẵn, sản xuất thuốc, hóa dược và dược liệu.

Trên thực tế, như nhận định của giới chuyên gia, phát triển của các DN trong lĩnh vực công nghiệp chế biến, chế tạo là bất cân xứng giữa khối ngoại và khối nội. Sự lớn mạnh tập trung chủ yếu vào khối DN có yếu tố xuất khẩu mà đầu tàu là khối FDI, trong khi các DN nội địa vẫn đối mặt nhiều khó khăn. Vì vậy, các FTA chỉ có lợi khi các DN nội thực sự phát triển được công nghiệp chế biến, chế tạo.

VnBusiness

Sự phát triển của các DN trong lĩnh vực công nghiệp chế biến, chế tạo là sự bất cân xứng giữa khối ngoại và khối ngoại

Số liệu trong 5 năm trở lại đây cho thấy lượng vốn FDI chảy vào ngành công nghiệp chế biến, chế tạo trong tổng vốn đăng ký của cả nước vẫn tăng đều đặn (thu hút đến 70% vốn FDI), trung bình mỗi năm, Việt Nam thu hút hơn 10 tỷ USD vốn FDI vào lĩnh vực này và chiếm ít nhất là 75% trong tổng số DN thuộc ngành này.

Còn theo Tổng cục Thống kê, trong 7 tháng đầu năm 2016, ngành công nghiệp chế biến, chế tạo có số vốn đầu tư nước ngoài được cấp phép mới lớn nhất với hơn 5,6 tỷ USD, chiếm 64,7% tổng vốn đăng ký cấp mới.

Nếu tính cả vốn đăng ký bổ sung của các dự án đã cấp phép từ các năm trước, tổng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài vào ngành công nghiệp chế biến, chế tạo trong 7 tháng năm 2016 đạt hơn 9,1 tỷ USD, chiếm 70,5% tổng vốn đăng ký.

Không thể hiểu biết suông

Việc rót vốn của khối ngoại đầu tư vào lĩnh vực công nghiệp chế biến, chế tạo tại Việt Nam, theo nhận định, vừa gặp ít rủi ro, lại tận dụng được lợi thế nhân công, năng lượng giá rẻ và tận dụng những cơ hội mà các FTA mang lại.

Trong khi đó, tại phiên họp của Ban chỉ đạo liên ngành hội nhập quốc tế và kinh tế mới đây, Thứ trưởng Bộ Công Thương Trần Quốc Khánh đánh giá rằng các FTA được kí kết dường như khối DN FDI có chuẩn bị và nắm bắt tốt hơn các cơ hội. Khả năng nắm bắt cơ hội của DN Việt Nam là chưa rõ ràng.

Theo ý kiến của một thứ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư, các DN có khi cũng chưa hiểu được lợi ích mà họ đạt được thông qua FTA và họ phải chuẩn bị gì. Điều này cũng được dẫn chứng, khi gia nhập AEC, xuất nhập khẩu hàng hóa của Việt Nam trong nửa năm qua không những không phát triển, mà còn bị “co lại” (xuất khẩu của Việt Nam trong khu vực ASEAN đạt 9,5 tỷ USD, giảm tới 12,3%). Phần lớn các đối tác có cơ cấu kinh tế trùng lặp, mang tính chất cạnh tranh với Việt Nam hơn là bổ sung.

Xoay quanh vấn đề này, ông Isara Burintramart, Giám đốc điều hành công ty Reed Tradex (Thái Lan), chia sẻ: Những hiệp định FTA mới có phạm vi rộng lớn hơn về nội dung cam kết thương mại, dịch vụ và đầu tư. Tham gia các FTA, Việt Nam sẽ có những thử thách phải đối mặt như việc chống phá giá và chống trợ cấp.

Theo ông Isara Burintramart, một cuộc khảo sát năm 2011 được tiến hành ở 10 tỉnh thành, cách đây 5 năm cho thấy 96% trên tổng số 2.500 DN là doanh nghiệp nhỏ. Tỷ lệ này vẫn giữ nguyên đến năm 2014, phần lớn các DN này vẫn đang sử dụng những công nghệ cũ của 2-3 thế hệ trước. Trong số này, 75% máy móc, dây chuyền sản xuất là của những năm 1960-1970; 75% thiết bị đã khấu hao hết; và 50% đã được tân trang lại.

Rõ ràng, như khuyến nghị của vị Giám đốc Reed Tradex, việc cải cách và áp dụng các công nghệ mới một cách thích hợp trở nên rất cần thiết để các DN Việt Nam trong lĩnh vực công nghiệp chế biến, chế tạo có thể đáp ứng nhu cầu từ những quốc gia tiềm năng như Nhật Bản, Australia, New Zealand và Hàn Quốc.

Thế Vinh

}

Ba ba gai Cát Thịnh “mỏ vàng” mới từ kinh tế ao nuôi

Dưới những ao nuôi được kè bờ chắc chắn ở thôn Văn Hưng, xã Cát Thịnh, tỉnh Lào Cai, những con ba ba gai thương phẩm đang được HTX Chăn nuôi ba ba gai Cát Thịnh chăm sóc cẩn trọng. Mỗi con có giá từ 3 đến 5 triệu đồng, chưa kể hàng vạn con giống...

VnBusiness