Điểm sáng nông nghiệp huyện Kon Rẫy (Bài cuối): Tạo bước đột phá với công nghệ cao
Chọn cỡ chữ
Điểm sáng nông nghiệp huyện Kon Rẫy (Bài cuối): Tạo bước đột phá với công nghệ cao
Hiệu quả của các HTX, cùng sức lan tỏa của chương trình OCOP đang thay đổi diện mạo ngành nông nghiệp huyện Kon Rẫy, tỉnh Kon Tum từng ngày. Tuy nhiên, để giúp người dân trên địa bàn huyện thoát nghèo, làm giàu bền vững, cần có những giải pháp mang tính đột phá, trong đó phát triển nông nghiệp công nghệ cao được coi là mục tiêu mũi nhọn.
Chủ trương phát triển nông nghiệp an toàn, ứng dụng công nghệ cao, gắn với liên kết chuỗi giá trị, nâng tầm thương hiệu nông sản được huyện Kon Rẫy đẩy mạnh thực hiện từ đầu năm 2019. Đến nay, toàn huyện đã xây dựng thành công nhiều mô hình liên kết sản xuất cho hiệu quả kinh tế vượt trội, tạo điểm tựa cho hàng trăm hộ đồng bào dân tộc thiểu số.
Phát triển nông nghiệp hàng hóa gắn với công nghệ cao
Sự thích nghi tuyệt vời với điều kiện khí hậu, thổ nhưỡng đang giúp cây dược liệu nhanh chóng trở thành một trong những cây trồng chủ lực, được ngành nông nghiệp huyện Kon Rẫy đặc biệt quan tâm, đầu tư phát triển theo hướng hàng hóa gắn với công nghệ cao.
Nông nghiệp công nghệ cao là một trong 3 mục tiêu chiến lược trong phát triển kinh tế, xã hội huyện Kon Rẫy.
Để nâng cao hiệu quả mô hình, huyện đã kết nối, hình thành liên kết chuỗi giữa HTX Nông sản và Dược liệu sạch Kon Tum và công ty cổ phần KoRa Group, để xây dựng vườn ươm cây giống đảng sâm tại thôn 3, xã Tân Lập nhằm cung cấp cây giống chất lượng cao các hộ sản xuất tại địa phương.
Anh A Ran, dân tộc Xơ Đăng, xã Tân Lập, chia sẻ vào năm 2019, được sự hỗ trợ của cán bộ nông nghiệp huyện, gia đình anh cải tạo 5.000 m2 vườn nhà để trồng đảng sâm theo hướng hữu cơ. Để tăng giá trị sản xuất, bên cạnh lấy giống của HTX, anh đầu tư xây dựng hệ thống nhà màng hiện đại, được trang bị tưới tự động tiết kiệm nước.
Với hệ thống nhà màng, anh A Ran có thể duy trì sản xuất quanh năm, bất chấp những tác động ngày càng mạnh của biến đổi khí hậu.
“Được sự hỗ trợ của cán bộ nông nghiệp, tôi dễ dàng nắm bắt kỹ thuật, vận hành tốt hệ thống nhà lưới, máy móc tự động, đảm bảo chất lượng dược liệu vượt trội, theo đó được doanh nghiệp bao tiêu với giá cao, ổn định, không phải lo lắng vấn đề tiêu thụ. Năm 2020, chỉ sau hơn 1 năm phát triển mô hình, gia đình tôi thu về gần 100 triệu đồng”, anh A Ran cho biết.
Huyện Kon Rẫy cũng đang phát triển thành công nhiều mô hình chuỗi liên kết khác. Tiêu biểu như mô hình liên kết giữa nhà máy chế biến tinh bột sắn huyện Kon Rẫy với nông dân sản xuất gần 100 ha mì trên cánh đồng mẫu lớn tại thôn 11 (xã Đăk Ruồng), 50 ha mì cánh đồng mẫu lớn thôn Đăk Pô Kông, thôn Đăk Puich (xã Đăk Tờ Re).
Cũng ở xã Đăk Ruồng, nhà máy Đường Kon Tum liên kết và chuyển giao kỹ thuật cho cho hàng chục hộ nông dân sản xuất giống mía mới KK3, Sunpha buri 7. Đồng thời, nhà máy ký hợp đồng bao tiêu sản phẩm mía cho nông dân.
Còn ở xã Đăk Tờ Lung, ngành nông nghiệp tỉnh phối hợp với chính quyền địa phương hỗ trợ, chuyển giao kỹ thuật cho nông dân sản xuất 5 ha cà phê vối, 1,2 ha chuối nuôi cấy mô, 15 ha chuối mốc theo chuỗi liên kết. Đưa các giống mì cao sản KM 140, KM 419, KM 98-5, lúa lai nhị ưu 838 và lúa đài thơm tám... để góp phần nâng cao năng suất, tăng thu nhập cho nông dân...
Tập trung nguồn lực hỗ trợ
Ông Võ Văn Lương, Chủ tịch UBND huyện Kon Rẫy, cho biết để phát huy tiềm năng, lợi thế, đẩy mạnh phát triển nông nghiệp, đặc biệt là nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao, thời gian tới huyện chủ động tái cơ cấu ngành nông nghiệp theo hướng nâng cao giá trị gia tăng và phát triển bền vững.
Để công nghệ cao phát triển, cần sự đồng hành của cả người dân, chính quyền, HTX và doanh nghiệp.
Mục tiêu đến năm 2025, tổng diện tích gieo trồng toàn huyện đạt 12.519 ha, trong đó có 500 ha đất sản xuất theo hướng nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao. Mỗi xã có ít nhất 1 HTX liên kết theo chuỗi giá trị, và có 1 sản phẩm được công nhận đạt chuẩn OCOP.
Với vùng đồng bào dân tộc thiểu số, vào tháng 6/2021, huyện đã triển khai Cuộc vận động “Làm thay đổi nếp nghĩ, cách làm trong đồng bào dân tộc thiểu số, giúp đồng bào vươn lên thoát nghèo bền vững”.
Mục tiêu đến năm 2025, có từ 75% trở lên hộ đồng bào dân tộc thiểu số nghèo, cận nghèo trên địa bàn huyện thay đổi nếp nghĩ, bỏ dần những hủ tục lạc hậu, không trông chờ, ỷ lại vào sự giúp đỡ của Nhà nước, tự lực vươn lên thoát nghèo bền vững.
45% trở lên hộ đồng bào dân tộc thiểu số nghèo, cận nghèo biết áp dụng khoa học kỹ thuật vào sản xuất, lựa chọn giống cây trồng, vật nuôi có giá trị kinh tế cao, phù hợp với điều kiện thổ nhưỡng của địa phương để nuôi, trồng, biết chi tiêu hợp lý để tích lũy vốn tái đầu tư sản xuất.
Trên 30% hộ đồng bào dân tộc thiểu số nghèo, cận nghèo có đời sống vật chất, tinh thần được cải thiện; trên 30% hộ đồng bào dân tộc thiểu số nghèo, cận nghèo tham gia các tổ hợp tác, HTX trên địa bàn huyện. Hàng năm, tỷ lệ hộ nghèo, hộ cận nghèo là người đồng bào dân tộc thiểu số giảm bình quân 6%.
Để hiện thực hóa mục tiêu đề ra, huyện sẽ tập trung rà soát, điều chỉnh quy hoạch sử dụng đất tại các địa phương, trong đó cập nhật diện tích quy hoạch phát triển nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao để làm cơ sở thu hút đầu tư của doanh nghiệp.
Huyện cũng sẽ có cơ chế thu hút đầu tư tư nhân vào lĩnh vực nông nghiệp, lấy HTX, doanh nghiệp làm trọng tâm, tạo sức lan tỏa và liên kết với người dân để thúc đẩy sản xuất phát triển.
Bên cạnh đó, huyện tập trung rà soát, chuyển đổi các loại cây trồng kém hiệu quả sang trồng cây dược liệu, cây ăn quả, các loại rau củ có giá trị cao. Chủ động đẩy mạnh liên kết phát triển nguồn nguyên liệu để cung cấp cho nhà máy chế biến của công ty TNHH Nông nghiệp sạch Tây Nguyên đang đầu tư trên địa bàn.
Từng là một trong những huyện vùng cao đặc biệt khó khăn của tỉnh Lai Châu, nhưng những năm gần đây, Nậm Nhùn đã có những bước chuyển mình mạnh mẽ nhờ triển khai hàng loạt mô hình kinh tế liên kết tại các xã có đông đồng bào dân tộc thiểu số sinh sống.
Từ một huyện nghèo thuộc diện đặc biệt khó khăn của tỉnh Điện Biên, Nậm Pồ đang dần thay da đổi thịt khi người dân, đặc biệt là đồng bào dân tộc thiểu số mạnh dạn tiếp cận công nghệ thông tin, thương mại điện tử để sản xuất và tiêu thụ nông sản.
Không còn là miền đất của đói nghèo và biệt lập, nhiều vùng đồng bào dân tộc thiểu số miền núi tỉnh Bắc Kạn giờ đây đang trở thành hình mẫu về khát vọng vươn lên nhờ ứng dụng công nghệ thông tin và thương mại điện tử vào sản xuất, với HTX là cầu nối.
Giữa vùng cao biên giới Sìn Hồ (tỉnh Lai Châu) quanh năm mây mù bao phủ, ít ai nghĩ rằng nơi đây lại đang âm thầm diễn ra một cuộc “cách mạng nông nghiệp” với trung tâm là đồng bào dân tộc thiểu số.
Giữa đại ngàn Việt Bắc, huyện Võ Nhai (tỉnh Thái Nguyên) đang từng bước chuyển mình mạnh mẽ nhờ chuyển đổi cơ cấu cây trồng, ứng dụng công nghệ thông tin, thương mại điện tử và đặc biệt là sự “bứt phá” của các HTX có đông thành viên là đồng bào dân tộc thiểu số.
Liên minh HTX Việt Nam và Tổ chức Lao động Quốc tế triển khai chương trình hỗ trợ 356 hộ gia đình tại hai xã Xuân Thượng và Xuân Hòa, tỉnh Lào Cai, với tổng kinh phí gần 1,5 tỷ đồng. Chương trình giúp khôi phục sản xuất, sửa chữa nhà cửa và nâng cao khả năng ứng phó với thiên tai, hướng tới phát triển bền vững cho đồng bào dân tộc miền núi sau cơn bão Yagi.
Những ngày này, làng quất Tứ Liên bước vào quãng thời gian bận rộn nhất trong năm. Trên khắp các khu vườn, người trồng quất tất bật uốn cành, chỉnh thế, giữ dáng cho từng cây, chạy đua với thời gian để kịp đưa ra thị trường vào dịp Tết.
Dưới những ao nuôi được kè bờ chắc chắn ở thôn Văn Hưng, xã Cát Thịnh, tỉnh Lào Cai, những con ba ba gai thương phẩm đang được HTX Chăn nuôi ba ba gai Cát Thịnh chăm sóc cẩn trọng. Mỗi con có giá từ 3 đến 5 triệu đồng, chưa kể hàng vạn con giống...