VnBusiness

VnBusiness

VnBusiness

Doanh nghiệp

Xuất khẩu nông sản hướng tới mốc 74,212 tỷ USD, áp lực dồn vào quý IV

Xuất khẩu nông sản hướng tới mốc 74,212 tỷ USD, áp lực dồn vào quý IV

Kim ngạch xuất khẩu nông, lâm, thủy sản 9 tháng năm 2026 ước đạt 56,3 tỷ USD, tăng 7,8% so với cùng kỳ. Để hoàn thành mục tiêu 74,212 tỷ USD cả năm, ngành cần đẩy mạnh mở rộng thị trường, nâng chất lượng và gia tăng giá trị sản phẩm.

Theo báo cáo của Bộ Nông nghiệp và Môi trường tại cuộc làm việc ngày 25/9 giữa Phó Thủ tướng Thường trực Chính phủ Phạm Gia Túc với các hiệp hội, doanh nghiệp tiêu biểu ngành nông, lâm, thủy sản, kim ngạch xuất khẩu toàn ngành 9 tháng năm 2026 ước đạt 56,3 tỷ USD, tăng 7,8% so với cùng kỳ. Với mục tiêu 74,212 tỷ USD trong năm nay, ngành cần đạt thêm gần 18 tỷ USD trong quý IV.

Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường Võ Văn Hưng cho biết, Bộ đang triển khai các giải pháp phát triển thị trường, tháo gỡ khó khăn cho các ngành hàng, trong đó tập trung xử lý vướng mắc về mã số vùng trồng, cơ sở đóng gói, kiểm soát dư lượng và các rào cản tại thị trường trọng điểm.

Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường Võ Văn Hưng phát biểu tại cuộc họp.
Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường Võ Văn Hưng phát biểu tại cuộc họp.

Bộ cập nhật kịch bản tăng trưởng, theo đó đặt mục tiêu GDP toàn ngành năm 2026 tăng 4%, kim ngạch xuất khẩu đạt 74,212 tỷ USD; đồng thời đẩy mạnh kết nối sản xuất - tiêu thụ, tháo gỡ vướng mắc về mã số vùng trồng, cơ sở đóng gói, kiểm soát dư lượng đối với sầu riêng và các rào cản tại những thị trường trọng điểm.

Trong 9 tháng, xuất khẩu nông, lâm, thủy sản ước đạt 56,3 tỷ USD, tương đương khoảng 75,9% mục tiêu năm. Riêng tháng 9 đạt khoảng 6,51 tỷ USD, tăng 5,7%.

Trong đó, nông sản đạt 29,28 tỷ USD; lâm sản 14,41 tỷ USD; thủy sản 9,17 tỷ USD và sản phẩm chăn nuôi 564,4 triệu USD. Thủy sản tăng 12,3%, trong khi sản phẩm chăn nuôi tăng 24,6%.

Rau quả tiếp tục là một trong những động lực tăng trưởng, với kim ngạch 9 tháng khoảng 7,35 tỷ USD, tăng 19,9%. Riêng 8 tháng, sầu riêng đạt khoảng 2,27 tỷ USD, tăng 47,8%.

Xuất khẩu thủy sản đạt 9,17 tỷ USD, tăng 12,3%. Trong 8 tháng, tôm đạt khoảng 3,27 tỷ USD, tăng 11,4%; cá tra đạt 1,42 tỷ USD, tăng 10%. Tuy nhiên, những tháng cuối năm, ngành cần lưu ý chi phí nguyên liệu, logistics, vấn đề khai thác IUU và các biện pháp phòng vệ thương mại.

Lâm sản tiếp tục giữ vai trò trụ cột với kim ngạch 14,41 tỷ USD, tăng 7,6%; riêng gỗ và sản phẩm gỗ đạt khoảng 13,43 tỷ USD.

Ở chiều ngược lại, một số ngành hàng chịu sức ép về giá. Cà phê dù lượng xuất khẩu tăng 15,4%, lên khoảng 1,44 triệu tấn, nhưng kim ngạch giảm 7,3%, còn 6,54 tỷ USD do giá xuất khẩu bình quân giảm 19,7%. Xuất khẩu gạo cũng giảm cả lượng và giá trị, lần lượt 6,1% và 10,9%.

Thặng dư thương mại toàn ngành 9 tháng ước đạt 16,9 tỷ USD, tăng 7,4%. Tuy nhiên, thặng dư nhóm nông sản giảm 27,7%, còn 4,32 tỷ USD, trong khi sản phẩm chăn nuôi nhập siêu khoảng 3,43 tỷ USD, tăng 20,9%.

Bên cạnh yêu cầu mở rộng thị trường, việc nâng chất lượng và giá trị sản phẩm được nhìn nhận là giải pháp quan trọng để tăng sức cạnh tranh của nông sản, nhất là các sản phẩm vùng cao.

Theo ông Phạm Quyết Tiến, Phó Viện trưởng Viện Nghiên cứu công nghệ hỗ trợ nông nghiệp, điểm nghẽn của nhiều sản phẩm vùng cao nằm ở sự thiếu đồng bộ. Sản xuất còn phân tán, chất lượng nguyên liệu chưa ổn định, công nghệ sau thu hoạch hạn chế, trong khi dữ liệu vùng trồng và truy xuất nguồn gốc còn yếu khiến nhiều sản phẩm chủ yếu được bán dưới dạng nguyên liệu thô.

Dẫn chứng từ thực tế của Hợp tác xã Lộc Thúy Quỳnh Farm, ông Tiến cho rằng sản phẩm đặc hữu, dược liệu, hàng chế biến, thủ công và các sản phẩm gắn với bản sắc văn hóa vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi có nhiều tiềm năng phát triển thành hàng hóa. Tuy nhiên, quy mô sản xuất nhỏ, vùng nguyên liệu phân tán, chất lượng chưa đồng đều và năng lực chế biến, bảo quản hạn chế vẫn là những rào cản lớn.

Từ đó, ông cho rằng không nhất thiết phải đầu tư công nghệ đắt tiền; những thiết bị phù hợp quy mô sản xuất, hệ thống truy xuất dễ sử dụng hay giải pháp bảo quản giúp giảm hao hụt có thể mang lại hiệu quả thiết thực.

Thay vì triển khai các nhiệm vụ công nghệ riêng lẻ, cần hình thành giải pháp theo chuỗi giá trị, trong đó mỗi sản phẩm chủ lực phải gắn với vùng nguyên liệu, quy trình kỹ thuật, đầu mối tổ chức sản xuất và phương án thị trường rõ ràng. Hiệu quả công nghệ cũng cần được đo bằng những kết quả cụ thể như giảm chi phí, giảm hao hụt, nâng giá bán, tăng thu nhập và tạo được đầu ra ổn định.

Ở khâu thị trường, thương mại điện tử cũng cần được nhìn nhận như một hệ sinh thái, không chỉ là kênh bán hàng. Hợp tác xã cần được hỗ trợ từ kỹ năng số, xây dựng nội dung, quảng bá, thanh toán, logistics, chăm sóc khách hàng đến từng bước tiếp cận thị trường xuyên biên giới.

Đối với những chủ thể thiếu nhân lực, ông Tiến cho rằng cần hình thành đội ngũ hỗ trợ chuyên nghiệp để người dân, hợp tác xã tập trung vào sản xuất, còn nhân lực được đào tạo về thương mại điện tử, marketing số, logistics và ngoại ngữ đảm nhiệm khâu kết nối thị trường.

Trong bối cảnh xuất khẩu nông, lâm, thủy sản cần thêm gần 18 tỷ USD trong quý IV, việc mở rộng thị trường cần đi cùng nâng chất lượng, minh bạch nguồn gốc và gia tăng giá trị sản phẩm. Khi sản xuất gắn với nhu cầu thị trường, công nghệ gắn với đầu ra và người sản xuất có đủ năng lực vận hành, nông sản Việt sẽ có thêm điều kiện nâng sức cạnh tranh và mở rộng thị trường.

Hồng Hương

VnBusiness