
Nhập khẩu thủy sản, nghịch lý?
Trong bối cảnh xuất khẩu thủy sản không mấy sáng sủa thì kim ngạch nhập khẩu thủy sản của Việt Nam vẫn tăng đều ở mức hai con số. Có phải nguồn cung nguyên liệu thủy sản trong nước không đủ, giá thành cao nên doanh nghiệp chế biến chuộng thủy sản “nhập ngoại” hay chất lượng thủy sản của chúng ta quá kém?…
“Riêng đối với sản xuất và chế biến cá ngừ, cả nước hiện có 3.600 tàu với hơn 35.000 ngư dân đánh bắt cá ngừ đại dương. Sản lượng đánh bắt mỗi năm đạt khoảng 17.000 tấn nhưng các doanh nghiệp trong nước vẫn phải nhập khẩu thêm 4.000 – 5.000 tấn cá loại này để chế biến đáp ứng nhu cầu xuất khẩu”, ông Vũ Đình Đáp, Chủ tịch Hiệp hội Cá ngừ Việt Nam cho biết.
Thông tin trên đã khiến nhiều người đặt câu hỏi: “Vì sao sản lượng khai thác nhiều như vậy mà DN chế biến vẫn phải nhập khẩu một lượng cá ngừ?”.
Nhập từ cá đến tôm
Lí giải điều này, ông Đáp cho biết, hiện nghề khai thác cá ngừ còn tồn tại nhiều bất cập. Từ năm 2012 đến nay, nghề câu cá ngừ đại dương ở các địa phương gặp khủng hoảng lớn về chất lượng, giá trị và tổn thất sau thu hoạch. Nguyên nhân chính là do sự phát triển nóng của nghề câu tay kết hợp ánh sáng đã làm biến đổi chất lượng thịt cá trong quá trình khai thác.
Ngư trường quá xa, tập quán đánh bắt lạc hậu đã làm chất lượng cá ngừ thấp khiến hàng Việt Nam chỉ được dùng làm đồ hộp thay vì có mặt trong những nhà hàng sushi đắt đỏ. Trong khi đó, theo ông Đáp, hiện nay công nghệ chế biến cá ngừ ở Việt Nam vẫn còn khiêm tốn. Đến nay, chỉ có công ty Mãi Tín (doanh nghiệp Hàn Quốc) ở Khánh Hòa là có thể chế biến cá ngừ đại dương thành sản phẩm sushi xuất khẩu trực tiếp sang Nhật Bản.
Các chuyên gia kinh tế cho rằng theo giá thị trường, mỗi kg cá ngừ chỉ khoảng 90.000 đồng nhưng nếu khâu đánh bắt, bảo quản, chế biến đúng tiêu chuẩn kỹ thuật, đạt chất lượng tốt thì giá trị xuất khẩu của loài cá này có thể tăng gấp 6 lần.
Chất lượng sản phẩm chưa cao, công nghệ chế biến yếu kém không chỉ là vấn đề của riêng ngành cá ngừ mà đang là thực trạng của toàn ngành thủy sản hiện nay. Nhiều DN chế biến phải nhập khẩu một lượng lớn nguyên liệu thủy sản.
Cụ thể, theo Tổng cục Hải quan, năm 2015, tổng kim ngạch nhập khẩu thủy sản của Việt Nam là hơn 1 tỷ USD, tăng 0,5% so với năm 2014, cho dù xuất khẩu thủy sản cả nước năm qua suy giảm.
Trong đó, nhập khẩu tôm đạt 426 triệu USD, chiếm 40% tổng kim ngạch nhập khẩu thủy sản năm 2015, nhưng giảm khoảng 11% so với năm 2014; nhập khẩu cá ngừ đạt 215 triệu USD, chiếm 20% tổng kim ngạch nhập khẩu năm 2015 và tăng 15% so với năm 2014; phần còn lại là nhập khẩu các loại thủy hải sản khác. Theo Hiệp hội Chế biến và Xuất khẩu thủy sản (VASEP), các loại thủy hải sản được nhập khẩu về Việt Nam chủ yếu ở dạng tươi/sống, đông lạnh để phục vụ cho hoạt động gia công và chế biến xuất khẩu, trong đó, cá biển tươi/đông lạnh (mã HS 0302 và 0303) là 283 triệu USD Mỹ, tăng 12% so với năm 2014…
Đối với mặt hàng tôm, Việt Nam nhập khẩu từ 37 nước, trong đó, tôm chân trắng và tôm sú sống/đông lạnh (mã HS 03) chiếm phần lớn trong năm 2015 với tỷ trọng lần lượt là 65,9% và 20,3% tổng nhập khẩu tôm của Việt Nam; phần còn lại là các loại tôm khác.
Các loại thủy hải sản được nhập khẩu về Việt Nam chủ yếu ở dạng tươi/sống, đông lạnh để phục vụ cho hoạt động gia công và chế biến xuất khẩu.
Do chuộng “nguyên liệu ngoại”?
Lý giải nguyên nhân nhập khẩu thủy sản của Việt Nam vẫn lớn, trong đó có mặt hàng tôm, giám đốc một DN xuất khẩu thủy sản lớn ở Đồng bằng sông Cửu Long cho biết thêm là do giá tôm nguyên liệu trong nước cao hơn so với các nước xuất khẩu tôm khác, “cho nên để tăng khả năng cạnh tranh và duy trì tốc độ xuất khẩu, bắt buộc chúng tôi phải mua ở bên ngoài về”, vị này giải thích.
Thực tế, theo VASEP, năm 2015, Ấn Độ – quốc gia có giá xuất khẩu tôm rẻ hơn Việt Nam, có lúc chênh lệch đến 2 USD/kg đã trở thành nguồn cung tôm lớn nhất của Việt Nam và chiếm đến 74,7% tổng nhập khẩu tôm của cả nước trong năm 2015.
Theo dự báo của VASEP, trong năm 2016, Việt Nam sẽ có cơ hội tăng xuất khẩu tôm sang một số thị trường chủ lực nhờ tận dụng các hiệp định thương mại tự do đã được ký kết. Vì vậy, dự báo nhu cầu nhập khẩu tôm năm 2016 của Việt Nam sẽ lên khoảng 470 triệu USD, tăng 10% so với năm 2015.
Bài học mới đây nhất là ngành cá tra đang đứng trước tình hình thiếu nguyên liệu chế biến sản phẩm xuất khẩu một cách trầm trọng, chỉ đủ phục vụ xuất khẩu sang ba thị trường chính thay vì mục tiêu đặt ra là phục vụ 80 thị trường xuất khẩu.
Nguyên nhân của sự thiếu hụt nguyên liệu này là do năm 2015, người dân không tiêu thụ được cá, giá cá lại giảm xuống dưới chi phí sản xuất. Không bán được cá tra nên từ tháng 7/2015 đến nay, họ không đầu tư nuôi vụ mới, có số bỏ ao trống, số khác thì chuyển sang nuôi các loài cá khác để tiêu thụ nội địa có giá cao hơn. Do vậy, nếu muốn tăng thị trường nhập khẩu, không còn cách nào khác là DN chế biến cá tra phải nhập khẩu nguyên liệu từ nước ngoài.
Ngoài ra, giá thành sản phẩm của nguyên liệu trong nước quá cao nên các DN phải nhập khẩu nguyên liệu về chế biến.
Các chuyên gia đánh giá, về lâu dài, điều này sẽ ảnh hưởng đến ngành thủy sản Việt Nam. Khi không còn quá phụ thuộc nguồn cung thủy sản nguyên liệu trong nước, DN bằng cách này, cách khác sẽ ép giá người nuôi. Còn phía người nuôi, khi nhận thấy nuôi tôm không có lãi sẽ bỏ ao như trường hợp cá tra vừa qua. Lúc này, sự phụ thuộc vào nguồn thủy sản nguyên liệu nhập khẩu ngày càng nhiều. Bằng chứng là trong ba năm qua, kim ngạch nhập khẩu của Việt Nam đều tăng hai con số, đã phần nào chứng minh DN ngày càng thích nhập khẩu nguyên liệu.
Giá thành sản xuất tôm nguyên liệu tại Việt Nam cao hơn giá chung nhiều nước khác (như Indonesia, Ấn Độ…) nên các DN Việt Nam buộc phải nhập khẩu nguyên liệu. Nếu áp nguyên tắc xuất xứ rõ ràng thì DN Việt Nam sẽ gặp không ít khó khăn.
Lê Thúy
Ông Nguyễn Hoài Nam - Phó Tổng thư ký VASEP Nhiều doanh nghiệp xuất khẩu thủy sản Việt Nam sẽ được hưởng lợi từ các FTA và TPP. Tuy nhiên, để bước ra sân chơi lớn, nắm bắt được các cơ hội, doanh nghiệp thủy sản cần nhanh nhạy với thị trường, nâng cao hơn nữa chất lượng sản phẩm xuất khẩu để không bị lúng túng trước những rào cản kỹ thuật khắt khe hơn. Ông Michael Akester - Chuyên gia cố vấn nông nghiệp Việt Nam cần tiếp tục đảm bảo xu hướng chất lượng, kiểm soát tạp chất và kháng sinh trong các sản phẩm thủy sản. Đồng thời tiếp tục sản xuất các sản phẩm chất lượng với giá cả hợp lý. Và tiến hành nghiên cứu, tìm hiểu thị trường để xác định loại sản phẩm giá trị gia tăng phù hợp với nhu cầu và thị hiếu của từng thị trường. Ông Nguyễn Đỗ Anh Tuấn - Viện trưởng Viện Chính sách và Chiến lược phát triển nông nghiệp nông thôn (IPSARD) Một thực tế cần phải thừa nhận hiện nay là khâu chế biến thủy sản của Việt Nam còn rất yếu. Phần lớn các sản phẩm thủy sản vẫn ở dạng tươi sống, đông lạnh hoặc phơi khô, thiếu các công nghệ tạo giá trị gia tăng cao. Để tận dụng được các dư địa thuế quan, Việt Nam cần phải đẩy mạnh công đoạn chế biến trong chuỗi giá trị thủy sản. Giải pháp chính vẫn là nâng cao năng lực cạnh tranh của các mặt hàng nông sản, từng bước xây dựng các chuỗi giá trị khép kín từ sản xuất đến tiêu dùng nhằm nâng cao chất lượng, vệ sinh an toàn thực phẩm, giảm giá thành để cạnh tranh sòng phẳng với các sản phẩm nhập khẩu. |

Nhà đầu tư căn hộ cho thuê nghẹt thở vì ‘cỗ máy sinh lời’ bị kẹt
Vì sao Nhà nước đánh thuế vàng miếng, dù chỉ 0,1%?
Lãi suất cho vay mua nhà: Áp lực tăng hiện hữu, mặt bằng mới dần hình thành

Thêm một thành viên của THACO phát hành trái phiếu
Vàng nhẫn và vàng miếng cùng đảo chiều giảm
Bất động sản phía Nam bật dậy sau đáy, kỳ vọng bước vào chu kỳ ổn định
Đầu cơ nhà phố: Nhà đầu tư cũ “kẹt hàng”, người mới vẫn chờ giá hợp lý
10 gia tộc giàu nhất thế giới
Theo cập nhật mới nhất của Bloomberg, chỉ trong vòng 12 tháng qua, tổng tài sản của 25 gia đình giàu nhất hành tinh đã tăng thêm 358,7 tỷ USD.
Đừng bỏ lỡ
Tự mở cửa thị trường online, HTX ở Lạng Sơn vươn mình hội nhập
Tận dụng mạng xã hội, sàn thương mại điện tử để quảng bá và bán hàng trực tuyến, nhiều HTX nông nghiệp trên địa bàn tỉnh Lạng Sơn đang từng bước thay đổi cách tiếp cận thị trường.






























