
Lo nguyên liệu “làm khó” ngành nhựa
Ngành nhựa Việt Nam hiện mới chủ động 20% – 25% nguyên liệu cũng như hoá chất phụ gia đầu vào, còn lại phải nhập khẩu hoàn toàn. Việc phụ thuộc nhiều vào nguồn nguyên liệu và các bán sản phẩm từ nước ngoài dễ làm ngành nhựa giảm sức cạnh tranh.
Nhiều năm nay, ngành nhựa là một trong những ngành công nghiệp có tăng trưởng cao nhất Việt Nam với mức tăng hàng năm từ 16% – 18%/năm (chỉ sau ngành viễn thông và dệt may). Có những mặt hàng nhựa tốc độ tăng trưởng đạt gần 100%.
Về xuất khẩu, năm 2015 vừa qua, sản phẩm nhựa Việt Nam xuất khẩu đến 159 thị trường trên thế giới với mức tăng trưởng cả năm ước đạt 12,4%, tương ứng kim ngạch ước đạt hơn 2,45 tỷ USD.
Phụ thuộc nguyên liệu ngoại
Tuy vậy, với những điểm yếu chưa khắc phục, nhất là nguồn nguyên liệu, các doanh nghiệp (DN) nhựa nội địa đang đối mặt cạnh tranh quyết liệt các DN trong khu vực Cộng đồng Kinh tế ASEAN (AEC) khi hàng rào phi thuế quan được dỡ bỏ.
Có nhiều sản phẩm nhựa gia dụng của DN Việt đã xuất khẩu đi nhiều nước trên thế giới, tuy nhiên giá trị mang lại chưa cao vì vẫn cạnh tranh ở phân khúc thấp.
Phát biểu tại hội thảo về Xu hướng Phát triển ngành nhựa và cao su trên thế giới và Việt Nam vào ngày 2/3 trong khuôn khổ Triển lãm quốc tế về Công nghệ, nguyên phụ liệu và thiết bị máy móc ngành Nhựa và cao su Việt Nam (Plastics & Rubber Việt Nam 2016) diễn ra tại Tp.HCM, ông Hồ Đức Lam, Chủ tịch Hiệp hội Nhựa Việt Nam (VPA), dự báo đến năm 2020, các DN ngành nhựa Việt Nam sẽ cần khoảng 5 triệu tấn nguyên liệu để phục vụ cho sản xuất.
Theo lãnh đạo VPA, khả năng trong nước mới chỉ đáp ứng được khoảng gần 900.000 tấn nguyên liệu và hoá chất, phụ gia cho nhu cầu ngành nhựa nội địa.
Ông Hồ Đức Lam cho biết ngành nhựa hiện nay mới chỉ chủ động được khoảng 20% – 25% nguyên liệu cũng như hoá chất phụ gia đầu vào. Còn lại phải nhập khẩu hoàn toàn khiến cho hoạt động sản xuất của ngành bị phụ thuộc rất nhiều vào nguồn nguyên liệu và các bán sản phẩm từ nước ngoài.
Theo thống kê, năm 2015, ngành nhựa Việt sản xuất và tiêu thụ gần 5 triệu tấn sản phẩm. Nếu sản phẩm nhựa tính trên đầu người năm 1990 chỉ đạt 3,8kg/năm thì nay đã tăng lên 41kg/năm. Mức tăng này cho thấy nhu cầu sử dụng sản phẩm của ngành nhựa ở trong nước ngày một gia tăng.
Đến nay, toàn ngành nhựa nội địa gồm khoảng gần 2.000 DN trải dài từ Bắc vào Nam và tập trung chủ yếu ở Tp.HCM (chiếm hơn 84%) thuộc mọi thành phần kinh tế với hơn 99,8% là doanh nghiệp tư nhân.
Theo nhận định của giới chuyên gia, dù có sự phát triển mạnh trong những năm gần đây nhưng ngành nhựa chủ yếu chỉ được biết đến như một ngành kỹ thuật về gia công chất dẻo.
Trong khi đó, đặc thù nổi bật của ngành nhựa nội địa là phải nhập khẩu đến 85% – 90% nguyên liệu đầu vào phục vụ cho quá trình sản xuất tạo ra sản phẩm, lại không chủ động được hoàn toàn nguồn nguyên liệu đầu vào cho hoạt động sản xuất.
Chính vì vậy, việc nhập khẩu các loại nguyên liệu nhựa đã không ngừng tăng về số lượng cũng như trị giá nhập khẩu qua các năm.
Ngành nhựa nội địa hiện mới chỉ chủ động được khoảng 20 – 25% nguyên liệu cũng như hoá chất phụ gia đầu vào.
Phải thúc đẩy khâu cải tiến
Hiện nay, mỗi năm ngành nhựa cần trung bình khoảng 3,5 triệu tấn các loại nguyên liệu đầu vào như PE, PP, PS…, chưa kể hàng trăm loại hoá chất phụ trợ khác nhau. Trong khi đó, khả năng trong nước mới chỉ đáp ứng được khoảng gần 900.000 tấn nguyên liệu và hoá chất, phụ gia cho ngành nhựa.
Đó là chưa kể, việc thâu tóm DN ngành nhựa được dự đoán sẽ tiếp diễn trong năm 2016, sau khi AEC có hiệu lực và chuẩn bị cho TPP sắp tới.
Một chủ DN nhựa cho rằng các DN nhựa nội địa đang cảm thấy một sức ép rất lớn khi Việt Nam tham gia vào AEC và TPP. Do không chịu nổi áp lực cạnh tranh nên một số đã quyết định bán DN.
Theo giới chuyên gia, các Hiệp định Thương mại tự do (FTA) có thể thúc đẩy tăng trưởng sản lượng nhựa xuất khẩu. Tuy nhiên, điều này sẽ làm tăng áp lực cạnh tranh tại thị trường Việt Nam. Thuế nhập khẩu hạt nhựa PP dự kiến tăng từ 2% lên 3% trong năm 2016.
Ông Hồ Đức Lam cho rằng ngành nhựa Việt Nam cần nghiêm túc xem xét việc đầu tư máy móc cần thiết để nâng tầm chất lượng sản phẩm cũng như có sự liên kết đầu tư để mua các bộ design sáng chế từ các đơn vị cung cấp hàng đầu trên thế giới để luôn đa dạng về mẫu mã. Hiện nay, do sản phẩm nhựa của Việt Nam đa phần đứng ở phân khúc thấp nên các DN ít chú trọng đển việc đầu tư công nghệ hiện đại. Điều này làm giảm sức cạnh tranh của sản phẩm nhựa Việt Nam trên thị trường.
Theo giới chuyên gia, để hội nhập hiệu quả, ngành nhựa cần hướng đến việc tự chủ hơn về nguồn nguyên liệu, cải tiến sản phẩm, tiến tới thâm nhập, mở rộng thị trường. Trong quá trình đó, ngành nhựa không chỉ cần có giá cả cạnh tranh mà quan trọng hơn vẫn là chất lượng.
Với triển vọng triển khai và hoàn tất 14 hiệp định thương mại tự dao (FTA) trong giai đoạn đến 2020, ngành nhựa cần nghiêm túc xem xét việc đầu tư máy móc cần thiết dể nâng tầm chất lượng sản xuất sản phẩm cũng như có sự liên kết đầu tư.
Các DN trong ngành cần liên kết hợp tác để thực hiện các hợp đồng lớn và lâu dài, thay vì tồn tại tới hơn 2.000 doanh nghiệp song chủ yếu vẫn là quy mô vừa, thậm chí nhỏ lẻ như hiện nay.
Để tận dụng tối đa những lợi thế phát triển, các DN nhựa sẽ phải thúc đẩy nhanh khâu cải tiến, đầu tư công nghệ mới, mạnh dạn đầu tư đổi mới dây chuyền sản xuất sang ngành nhựa kỹ thuật cao, nâng cao giá trị gia tăng của ngành.
Thế Vinh

Vừa sa thải hàng nghìn người, ngân hàng lại chuẩn bị tuyển ồ ạt
Thoát “áo chật” hạn mức, Mobile Money mở đường cho hộ kinh doanh
Đầu tư Công nghiệp Xuất nhập khẩu Đông Dương: Tái cấu trúc nợ và lỗ thêm gần 58 tỷ đồng sau kiểm toán

Đầu cơ nhà phố: Nhà đầu tư cũ “kẹt hàng”, người mới vẫn chờ giá hợp lý
Bất động sản nghỉ dưỡng vào ray phục hồi nhưng sẽ 'phân hóa' mạnh
Công ty Metro Star, chủ dự án có kiến trúc đẹp nhất Việt Nam 2022, bị nêu tên vì nợ thuế hơn 35 tỷ đồng
Bất động sản năm 2026 có thực sự lạc quan?
‘So găng’ các hãng hàng không Việt năm 2026
Năm 2026 được dự báo là giai đoạn cạnh tranh khốc liệt của ngành hàng không Việt Nam, đặc biệt ở phân khúc nội địa, khi nhiều hãng đồng loạt mở rộng quy mô và tái gia nhập thị trường.
Đừng bỏ lỡ
Ba ba gai Cát Thịnh “mỏ vàng” mới từ kinh tế ao nuôi
Dưới những ao nuôi được kè bờ chắc chắn ở thôn Văn Hưng, xã Cát Thịnh, tỉnh Lào Cai, những con ba ba gai thương phẩm đang được HTX Chăn nuôi ba ba gai Cát Thịnh chăm sóc cẩn trọng. Mỗi con có giá từ 3 đến 5 triệu đồng, chưa kể hàng vạn con giống...































