VnBusiness

VnBusiness

VnBusiness
VnBusiness

Việt Nam

Công nghiệp “mãi không lớn”, vì sao?

Công nghiệp “mãi không lớn”, vì sao?

Thế giới đã bước sang cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư trong khi nền công nghiệp Việt Nam vẫn còn ở giai đoạn hai của cơ giới hóa và gia công lắp ráp. Điều này khiến Việt Nam phải đối mặt với nguy cơ “hậu công nghiệp hóa quá sớm” do không tận dụng tốt lợi thế về giai đoạn dân số vàng và là nước đi sau trong công nghiệp hóa suốt thời gian qua.

Sau từng thời kỳ đổi mới, không phủ nhận những bước tiến đáng kể của ngành công nghiệp Việt Nam song nhìn chung, toàn ngành vẫn còn ở trình độ phát triển thấp với nhiều hạn chế và bất cập.

Theo ông Nguyễn Văn Bình, Trưởng ban Kinh tế trung ương, cho đến nay, tuy đã có sự tăng trưởng trong sản xuất công nghiệp tại Việt Nam nhưng đó là sự tăng trưởng thiếu bền vững do chậm cải thiện chất lượng tăng trưởng và sự yếu kém về nội lực của ngành.

Tốc độ tăng trưởng về giá trị sản xuất và giá trị gia tăng trong công nghiệp đang có xu hướng giảm mạnh. Cụ thể, giai đoạn 2006 – 2010, tốc độ tăng trưởng giá trị sản xuất công nghiệp là 16,2%/năm, giai đoạn 2011 – 2015 giảm còn 10%/năm.

VnBusiness

Ngành công nghiệp thép dù nhiều năm được ưu tiên, bảo hộ nhưng vẫn “không lớn”

“Chưa giàu đã già”

Trên thực tế, tăng trưởng sản xuất công nghiệp phụ thuộc phần lớn vào tăng trưởng khối doanh nghiệp (DN) có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI). Trong khi tăng trưởng khối DN trong nước mới chỉ tập trung ở các ngành công nghiệp khai thác tài nguyên, sử dụng nhiều lao động giá rẻ, ít ngành công nghệ cao, thâm dụng công nghệ.

Do vậy, tăng trưởng sản xuất công nghiệp phải nhờ vào việc mở rộng quy mô những ngành sử dụng nhiều lao động thay vì các ngành công nghiệp công nghệ cao.

Đáng chú ý, năng suất lao động (NSLĐ) công nghiệp, nhất là ngành công nghiệp chế biến – chế tạo còn ở mức thấp. Tốc độ tăng NSLĐ của ngành công nghiệp giai đoạn 2006 – 2015 khoảng 2,4%/năm, tốc độ tăng chậm hơn tốc độ tăng bình quân chung của nền kinh tế là 3,9%.

So với các quốc gia trong khu vực, NSLĐ công nghiệp của Việt Nam, nhất là NSLĐ ngành công nghiệp chế biến – chế tạo còn khá thấp (NSLĐ ngành chế biến chế tạo của Việt Nam thấp hơn Malaysia và Thái Lan 6,4 lần, thấp hơn Philippines 3,6 lần).

Bên cạnh đó, do quá phụ thuộc vào FDI trong khi sự liên kết giữa DN FDI với DN trong nước thiếu chặt chẽ, dẫn đến tỷ lệ nội địa hóa của DN FDI ở nền kinh tế nước ta còn thấp.

Đồng thời, năng lực cạnh tranh của ngành công nghiệp thấp, khả năng tham gia vào chuỗi giá trị toàn cầu rất hạn chế nên tăng trưởng vốn đầu tư cho sản xuất công nghiệp có xu hướng giảm, hiệu quả vốn đầu tư phát triển sản xuất công nghiệp không cao…

Ông Bình đánh giá, nhìn chung, thời gian qua, nước ta đã không tận dụng tốt lợi thế giai đoạn dân số vàng và là nước đi sau trong công nghiệp hóa, khiến toàn ngành đang phải đối diện với nguy cơ hậu công nghiệp hóa quá sớm và công nghiệp hóa thu hút ít lao động.

Đồng quan điểm, Gs. Trần Văn Thọ – Đại học Waseda (Nhật Bản), dẫn ví dụ nhiều quốc gia phát triển nền công nghiệp thành công như Nhật Bản, Hàn Quốc… Thời kỳ hậu công nghiệp hóa chỉ đến khi thu nhập bình quân (GDP theo đầu người) đạt ngưỡng 30.000 USD. Trong khi đó, GDP Việt Nam mới đạt bình quân 3.000 USD/người đã phải đối mặt với nguy cơ hậu công nghiệp hóa. Như vậy là quá sớm.

Gs. Thọ cho rằng Việt Nam phải đẩy mạnh công nghiệp hóa theo cả chiều rộng và chiều sâu để cưỡng lại quá trình hậu công nghiệp hóa đang đến quá sớm. Trước mắt, phải tháo gỡ bất cập trong chính sách công nghiệp hóa thời gian qua do Việt Nam chưa có một chính sách công nghiệp quốc gia mang tính tổng thể, khả thi với tầm nhìn dài hạn. Đồng thời, còn thiếu các chính sách cụ thể, thiếu sự ưu tiên về nguồn lực để theo đuổi một cách nhất quán và quyết liệt các mục tiêu đã đề ra.

Chính sách công nghiệp có vấn đề?

Bình luận về chính sách công nghiệp ưu tiên của Việt Nam hiện nay, Ts. Vũ Thành Tự Anh, trường Đại học Fulbright Việt Nam, đã đưa ra một loạt sai lầm của ngành thép, ô tô, xi măng. Sau nhiều năm bảo hộ, ngành phải nhập khẩu, thậm chí giá thép Việt Nam cao hơn cả thép Trung Quốc.

Đằng sau con chip điện tử của Intel mỗi năm xuất khẩu 4 tỷ USD, điện thoại của Samsung 40 tỷ USD (khoảng 20% tổng kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam), giá trị đóng góp của công nghiệp hỗ trợ Việt Nam vẫn chỉ nằm ở gia công lắp ráp. Với Intel, chúng ta không có nhà cung cấp cấp 1, cấp 2 nào và Samsung cũng vậy.

“Điều đó có nghĩa là Intel hay Samsung vẫn chưa tạo được sự lan tỏa, chưa trở thành cái cốt lõi của ngành công nghiệp điện tử Việt Nam mà chỉ đang lắp ráp. Đây chính là hệ quả của quá trình bảo hộ công nghiệp trước đây, sau nhiều năm bảo hộ, ngành công nghiệp non trẻ mãi không lớn”, Ts. Anh đánh giá.

Theo Ts. Vũ Thành Tự Anh, vấn đề không phải là nên hay không nên có chính sách công nghiệp ưu tiên, mà vấn đề là nên có chính sách công nghiệp ưu tiên như thế nào. Việt Nam không nên theo đuổi chính sách ưu tiên một số sản phẩm công nghiệp cá biệt như hiện nay. Thay vào đó, Chính phủ nên thực thi chính sách ưu tiên phát triển một số “lĩnh vực năng lực” phù hợp với mục tiêu và chiến lược phát triển dài hạn của đất nước.

“Con đường để Việt Nam phát triển được nền công nghiệp quốc gia không phải là trông chờ vào bảo hộ, mà phải nhờ vào lợi thế so sánh, thành công qua cạnh tranh”, Ts. Anh nói.

Theo Ts. Nguyễn Đức Kiên, Phó Chủ nhiệm Ủy ban Kinh tế của Quốc hội: “Chính sách phát triển công nghiệp Việt Nam trong thời gian vừa qua ‘mang hình hài của quả mít, rất nhiều mũi nhọn như nhau nên không biết được đâu là ưu tiên, đâu là đột phá. Đã đến lúc buộc phải thay đổi”.

Dưới góc độ của cơ quan hoạch định chính sách, Thứ trưởng Bộ Công Thương, ông Đỗ Thắng Hải, cho rằng công nghiệp Việt Nam cần một hệ thống chính sách đồng bộ và hiệu quả. Thực tiễn cho thấy, chúng ta không thiếu chính sách; song, ngoài một số ít chính sách có hiệu quả, có tác động tạo sự đột phá, còn nhiều chính sách được ban hành chưa kịp thời và ít tác dụng.

Giải pháp là trong thời gian tới, chúng ta cần đổi mới tư duy khi xây dựng chính sách, thay vì chỉ tiếp cận theo hướng “đưa chính sách vào cuộc sống”, cần kết hợp đồng bộ với “đưa cuộc sống vào chính sách”.

Tức là, trên cơ sở các định hướng và mục tiêu phát triển trong từng giai đoạn, phải xuất phát từ những đòi hỏi của cuộc sống để ban hành những chính sách phù hợp. Các ưu đãi đề xuất phải được cân nhắc kỹ, căn cứ vào nguồn lực, để sau khi ban hành, chính sách có thể triển khai thực hiện.

Lê Thúy

Ông Nguyễn Văn Bình - Trưởng Ban kinh tế Trung ương

Tôi cho rằng nhận thức và tầm nhìn của các cấp ủy, chính quyền, doanh nghiệp và cộng đồng về chính sách công nghiệp quốc gia chưa đầy đủ, có nơi còn bị ảnh hưởng bởi lợi ích cục bộ và tư duy nhiệm kỳ, lợi ích nhóm, quan hệ thân hữu. Việc tổ chức thực hiện chủ trương của Đảng về chính sách công nghiệp quốc gia ở các cấp, các ngành và địa phương còn thụ động, chậm trễ, không rõ trách nhiệm và quyền hạn.

Ông Đỗ Thắng Hải - Thứ trưởng Bộ Công thương

Cần có chính sách công nghiệp cụ thể một số ngành. Trong lĩnh vực công nghiệp chế biến, cần tập trung giải quyết tình trạng “đa nhưng không tinh” của các sản phẩm chế biến, nhất là vấn đề vệ sinh, an toàn thực phẩm. Trong lĩnh vực đầu tư, không đầu tư dàn trải vào tất cả các ngành, các lĩnh vực; tập trung tối đa vào một số ngành, lĩnh vực, sản phẩm chủ yếu nhằm thúc đẩy tăng trưởng. Trong lĩnh vực thị trường, cần xác định phát triển thị trường hàng hóa là yếu tố quan trọng cho sự phát triển công nghiệp…

Ts. Nguyễn Thị Tuệ Anh - Phó Viện trưởng Viện Nghiên cứu Quản lý kinh tế Trung ương

Chính sách công nghiệp quốc gia của Việt Nam thời gian tới chắc chắn phải thay đổi cách tiếp cận. Trước đây là nền kinh tế đóng cửa, phụ thuộc quá nhiều ngành công nghiệp ưu tiên, dẫn đến nhiều hệ lụy. Những ngành công nghiệp được ưu tiên đó hiện không có năng lực cạnh tranh để bước ra khỏi quốc gia. Vì vậy, chính sách thời gian tới phải thể hiện được đổi mới mô hình tăng trưởng, năng suất lao động và năng lực cạnh tranh cần cải thiện rõ.

}

Ba ba gai Cát Thịnh “mỏ vàng” mới từ kinh tế ao nuôi

Dưới những ao nuôi được kè bờ chắc chắn ở thôn Văn Hưng, xã Cát Thịnh, tỉnh Lào Cai, những con ba ba gai thương phẩm đang được HTX Chăn nuôi ba ba gai Cát Thịnh chăm sóc cẩn trọng. Mỗi con có giá từ 3 đến 5 triệu đồng, chưa kể hàng vạn con giống...

VnBusiness