Cơ hội 500.000 tấn hydrogen sẽ trôi qua nếu thiếu chính sách
Chọn cỡ chữ
Cơ hội 500.000 tấn hydrogen sẽ trôi qua nếu thiếu chính sách
Mục tiêu sản xuất tới 500.000 tấn hydrogen vào năm 2030 không nằm ngoài tầm với của Việt Nam. Điều còn thiếu, theo TS. Nguyễn Hữu Lương, là những chính sách đủ mạnh để hình thành thị trường, phát triển hạ tầng và kéo dòng vốn vào toàn bộ chuỗi giá trị hydrogen.
TS. Nguyễn Hữu Lương, Chuyên gia cao cấp về Hydrogen, Viện Dầu khí Việt Nam chia sẻ cùng VnBusiness bên lề Diễn đàn Năng lượng Hydrogen và Tương lai công nghiệp không phát thải, ngày 29/7.
Việt Nam cần ưu tiên những chính sách nào để phát triển thị trường hydrogen, đặc biệt trong lĩnh vực giao thông, thưa ông ?
Trên thế giới, hydrogen được xác
định là một trong những giải pháp trọng điểm để giảm phát thải trong lĩnh vực
giao thông vận tải. Tuy nhiên, muốn phát triển hiệu quả thì không thể chỉ tập
trung vào phương tiện mà phải phát triển đồng bộ toàn bộ chuỗi giá trị, từ sản
xuất, vận chuyển, lưu trữ, phân phối cho đến tiêu dùng.
Trong điều kiện nguồn lực còn hạn
chế, Việt Nam cũng cần lựa chọn những phân khúc giao thông phù hợp để ưu tiên
đầu tư thay vì triển khai dàn trải.
Bên cạnh đó, hydrogen không chỉ phục
vụ giao thông mà còn liên quan đến nhiều ngành khác như năng lượng, công nghiệp
và hóa chất. Vì vậy, chính sách phát triển cần được xây dựng theo hướng liên
ngành để tạo nên hệ sinh thái hoàn chỉnh.
Theo ông, Việt Nam cần làm gì để hiện thực hóa mục tiêu sản xuất 100.000–500.000 tấn hydrogen mỗi năm vào năm 2030?
Tôi cho rằng Việt Nam hoàn toàn có
tiềm năng đạt mục tiêu trên. Tuy nhiên, để hiện thực hóa cần tập trung vào ba
vấn đề cốt lõi.
Thứ nhất, chi phí sản xuất hydrogen
hiện vẫn cao hơn nhiên liệu truyền thống nên cần có cơ chế hỗ trợ đầu tư trong
giai đoạn đầu đối với toàn bộ chuỗi giá trị.
Thứ hai là đầu tư hạ tầng. Cũng
giống như xe chạy xăng cần hệ thống cây xăng, phương tiện sử dụng hydrogen phải
có mạng lưới trạm nạp nhiên liệu. Nếu thiếu hạ tầng thì thị trường khó có thể
hình thành.
Về lâu dài, Việt Nam cũng cần từng
bước làm chủ công nghệ sản xuất và ứng dụng hydrogen nhằm giảm chi phí, nâng
cao năng lực cạnh tranh và hạn chế phụ thuộc vào công nghệ nhập khẩu.
Trong giai đoạn đầu, Việt Nam nên ưu tiên ứng dụng hydrogen ở những lĩnh vực nào để đạt hiệu quả cao nhất?
Theo tôi, Việt Nam nên ưu tiên ứng dụng hydrogen đối với xe
buýt liên tỉnh và xe tải tải trọng lớn chạy đường dài. Đây là những phương tiện
cần quãng đường di chuyển lớn, thời gian tiếp nhiên liệu nhanh và tải trọng cao
- những ưu điểm nổi bật của công nghệ hydrogen.
Ngoài giao thông đường bộ, Việt Nam
cũng nên nghiên cứu ứng dụng hydrogen trong hàng hải và hàng không thông qua
các loại nhiên liệu tổng hợp được sản xuất từ hydrogen.
Hydrogen xanh mở ra cơ hội và đặt ra những thách thức gì đối với doanh nghiệp Việt Nam?
Hydrogen vẫn là thị
trường mới tại Việt Nam. Trong giai đoạn đầu, hiệu quả kinh tế chưa thực sự rõ
ràng nên rất cần cơ chế hỗ trợ của Nhà nước, cả về đầu tư ban đầu lẫn tạo thị
trường tiêu thụ.
Không chỉ các doanh nghiệp lớn, các
doanh nghiệp vừa và nhỏ cũng có nhiều cơ hội tham gia vào từng mắt xích của
chuỗi cung ứng như vận chuyển, lưu trữ, phân phối hay cung cấp các dịch vụ kỹ
thuật. Đây đều là những lĩnh vực có dư địa phát triển khi thị trường hydrogen
được hình thành.
Theo ông, cần có cơ chế gì để thu hút đầu tư và giúp các dự án hydrogen tiếp cận nguồn vốn xanh?
Có thể nói, trong giai đoạn đầu, việc sản xuất
và sử dụng hydrogen chưa thật sự mang lại hiệu quả nhưng về lâu về dài sẽ hiệu quả. Trong bối cảnh đó, tôi cho rằng Chính phủ cần có những chính sách phù hợp, ví dụ đó là hỗ trợ
trong giai đoạn đầu phát triển dự án, hoặc là về vấn đề tiêu thụ hydrogen, vì
hiện nay tại Việt Nam chúng ta chưa có thị trường hydrogen.
Từ kinh nghiệm quốc tế, để có thể
tiếp cận nguồn vốn xanh, trước hết chúng ta phải có hệ thống tiêu chuẩn, quy
chuẩn rõ ràng để xác định thế nào là hydrogen xanh, hydrogen sạch hay hydrogen
phát thải carbon thấp. Nhiều quốc gia hiện quy định rất cụ thể ngưỡng phát thải
CO₂ trong quá trình sản xuất hydrogen.
Khi có bộ tiêu chuẩn thống nhất, các
dự án mới đủ điều kiện tiếp cận nguồn tài chính xanh.
Theo tôi, bên cạnh việc xây dựng các
quỹ hỗ trợ trong nước, Việt Nam cần tận dụng mạnh hơn các quỹ tín dụng xanh
quốc tế. Vai trò của Chính phủ là hoàn thiện khung pháp lý và hỗ trợ để các dự
án đáp ứng các tiêu chí quốc tế.
Ông đánh giá như thế nào về triển vọng của hydrogen trong lộ trình chuyển đổi năng lượng và xanh hóa giao thông tại Việt Nam?
Mục tiêu cuối cùng là giảm phát thải
trong giao thông vận tải - một trong ba lĩnh vực phát thải khí nhà kính lớn
nhất hiện nay.
Theo tôi, hydrogen sẽ không thay thế
hoàn toàn xe điện mà sẽ bổ sung cho nhau. Trên thế giới, xe chạy bằng hydrogen
phát triển sau xe điện khoảng 5-10 năm; với Việt Nam, khoảng cách này có thể
dài hơn.
Do đó, lộ trình xanh hóa giao thông
cần theo hướng đa dạng hóa các loại hình năng lượng sạch. Xe điện sẽ phù hợp
với một số phân khúc, trong khi hydrogen sẽ phát huy hiệu quả ở vận tải đường
dài, tải trọng lớn cũng như trong hàng hải và hàng không.
Muốn làm được điều đó, điều quan
trọng nhất hiện nay là sớm xây dựng thị trường hydrogen, hoàn thiện chính sách
hỗ trợ và đầu tư hạ tầng đồng bộ để tạo nền tảng cho sự phát triển lâu dài.
Xin trân trọng cảm ơn ông!
Theo Quyết định số 165/QĐ-TTg
ngày 7/2/2024 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chiến lược phát triển
năng lượng hydrogen đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2050, Việt Nam đặt mục
tiêu xây dựng hệ sinh thái hydrogen đồng bộ từ sản xuất, lưu trữ, vận chuyển,
phân phối đến sử dụng, từng bước tham gia sâu vào chuỗi giá trị hydrogen khu
vực và thế giới.
Chiến lược đặt mục tiêu đến năm 2030
sản xuất 100.000 - 500.000 tấn hydrogen phát thải thấp mỗi năm, phục vụ
nhu cầu trong nước và xuất khẩu; đến năm 2050, nâng sản lượng lên 10
- 20 triệu tấn/năm, góp phần thực hiện cam kết phát thải ròng bằng
"0" (Net Zero).
Khi một cơn bão đi qua, một dịch bệnh bùng phát hay một đợt sóng giá càn quét, những doanh nghiệp chỉ có một nguồn cung sẽ bị rơi vào thế tê liệt. Còn doanh nghiệp có hệ thống đa lớp vẫn sẽ bình tĩnh kích hoạt phương án B, phương án C để duy trì dòng chảy hàng hóa.
Kinh tế số tạo cơ hội để doanh nghiệp nhỏ và HTX mở rộng kênh phân phối, quảng bá sản phẩm địa phương và tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị quốc tế. Để khai thác hiệu quả dư địa này, cần những giải pháp chuyển đổi số phù hợp với năng lực và nhu cầu thực tế của từng đơn vị.
Khoảng cách về công nghệ, hạn chế về nhân lực và hạ tầng nghiên cứu đang là những thách thức lớn đối với doanh nghiệp nông nghiệp trong nước. Để các doanh nghiệp có thể tạo bước đột phá về tăng trưởng, cần có sự đồng bộ thể chế, cơ chế hỗ trợ thực chất và đầu tư cho khoa học công nghệ.
Tăng trưởng GDP trên 9% đang tạo thêm dư địa để nâng việc làm, thu nhập và cải thiện đời sống người dân. Tuy nhiên, chênh lệch về nguồn lực, hạ tầng, năng lực thực thi và khả năng tiếp cận chính sách giữa các địa phương vẫn là rào cản khiến thành quả tăng trưởng chưa lan tỏa đồng đều, nhất là tại những vùng còn nhiều khó khăn.
Một sản phẩm tốt chưa đủ để tạo nên một thương hiệu mạnh. Trong bối cảnh cạnh tranh ngày càng khốc liệt như hiện nay, doanh nghiệp cần biết thấu hiểu khách hàng, có trách nhiệm với người lao động và cộng đồng, đồng thời chủ động kết nối thương hiệu của mình với thương hiệu ngành hàng, địa phương và quốc gia.
Trước bối cảnh yêu cầu chống phá rừng và truy xuất nguồn gốc của Liên minh châu Âu (EU) ngày càng khắt khe, các doanh nghiệp xuất khẩu không thể chỉ chú ý đến sản lượng và giá cả, mà đồng thời phải quan tâm sâu hơn đến nguồn gốc của nguyên liệu. Nếu một mắt xích không cung cấp được thông tin cần thiết thì việc truy xuất toàn bộ lô hàng sẽ gặp khó khăn.
UBND TP Hà Nội vừa trình HĐND thành phố xem xét chủ trương đầu tư dự án cải tạo, chỉnh trang, tái thiết không gian hồ Hoàn Kiếm và vùng phụ cận, với tổng mức đầu tư sơ bộ khoảng 22.229 tỷ đồng. Nội dung dự kiến được xem xét tại kỳ họp chuyên đề ngày 28/10.
Thanh toán không dùng tiền mặt ngày càng phổ biến, mang lại sự tiện lợi cho người dân và doanh nghiệp. Tuy nhiên, cùng với tốc độ phát triển của ngân hàng số, những thủ đoạn lừa đảo ứng dụng công nghệ cao cũng ngày càng tinh vi, đặt ra yêu cầu cấp...