VnBusiness

VnBusiness

VnBusiness

Cooperative

HTX giải bài toán xuất khẩu sản phẩm Halal vào thị trường ASEAN: Khơi điểm nghẽn, nắm "cơ hội vàng"

HTX giải bài toán xuất khẩu sản phẩm Halal vào thị trường ASEAN: Khơi điểm nghẽn, nắm "cơ hội vàng"

Dù sở hữu tiềm năng lớn tại thị trường Halal khu vực ASEAN, các HTX Việt Nam vẫn gặp nhiều rào cản từ tiêu chuẩn khắt khe và rủi ro pháp lý. Để bứt phá xuất khẩu, việc chuẩn hóa chuỗi sản xuất và chủ động ứng dụng công nghệ chính là chìa khóa then chốt.

Trong xu thế hội nhập kinh tế quốc tế sâu rộng, thị trường thực phẩm và sản phẩm Halal toàn cầu đang mở ra không gian tăng trưởng vô cùng lớn. Riêng tại khu vực ASEAN, theo báo cáo đánh giá của DinarStandard và Viện Nghiên cứu Kinh tế ASEAN và Đông Á (ERIA), hiện là nơi sinh sống của hơn 240 triệu tín đồ Hồi giáo, chiếm khoảng 42% tổng dân số toàn khu vực và tương đương 15% tổng dân số Hồi giáo trên toàn thế giới.

Rào cản chồng chất

Nhu cầu tiêu thụ các sản phẩm đạt chuẩn Halal tại các quốc gia trong khối như Indonesia hay Malaysia hiện không chỉ dừng lại ở thực phẩm mà đã mở rộng sang dược phẩm, mỹ phẩm, du lịch và dịch vụ.

Đặc biệt, khu vực ASEAN là một thị trường trọng điểm nhờ lợi thế về vị trí địa lý gần Việt Nam, giúp tối ưu chi phí vận chuyển và logistics.

Tuy nhiên, nhìn từ thực tế hoạt động của các HTX và doanh nghiệp Việt Nam, năng lực tiếp cận thị trường này còn rất khiêm tốn.

Giai đoạn 2021 - 2023, Việt Nam có khoảng 500 doanh nghiệp sở hữu chứng nhận Halal còn hiệu lực. Đến giai đoạn 2024 - 2026, con số này tăng lên khoảng 1.000 - 1.300 đơn vị theo thống kê của Cục Chất lượng, Chế biến và Phát triển thị trường (Bộ Nông nghiệp và Môi trường).

Dù có sự gia tăng, tỷ lệ doanh nghiệp và HTX có chứng nhận Halal mới chiếm chưa đến 0,5% tổng số doanh nghiệp đang hoạt động tại Việt Nam, một con số quá nhỏ bé so với tiềm năng.

Vẫn có ít HTX, doanh nghiệp đạt chứng nhận Halal và chưa tận dụng được thị trường ASEAN.
Vẫn có ít HTX, doanh nghiệp đạt chứng nhận Halal và chưa tận dụng được thị trường ASEAN.

Đáng chú ý, theo Thương vụ Việt Nam tại Malaysia, tính đến tháng 8/2026, Việt Nam mới chỉ có duy nhất 5 tổ chức/cơ sở được cơ quan quản lý Halal của Malaysia công nhận có chứng nhận tương thích. Điều này cho thấy "giấy thông hành" để bước chân vào các thị trường Hồi giáo khắt khe trong khu vực vẫn là một bài toán khó đối với phần lớn các đơn vị sản xuất trong nước, trong đó có các HTX.

Chia sẻ về những khó khăn cốt lõi, bà Bá Thị Nguyệt Thu, Giám đốc Trung tâm Xúc tiến và Trải nghiệm HalalViet, Giám đốc HTX Hà Nội Xanh, chỉ rõ rào cản lớn nhất nằm ở khâu chứng nhận. Hiện, thế giới chưa có một tiêu chuẩn Halal dùng chung toàn cầu, mà mỗi quốc gia trong khu vực ASEAN lại yêu cầu sự công nhận riêng như JAKIM (Malaysia), BPJPH (Indonesia). Thêm vào đó, thời gian đánh giá kéo dài từ 6 đến 12 tháng cùng yêu cầu khắt khe về kiểm soát nguy cơ nhiễm chéo từ khâu hậu thu hoạch khiến ít HTX, doanh nghiệp có thể đáp ứng được yêu cầu và tận dụng được cơ hội từ thị trường Halal.

Bên cạnh đó, các HTX nông nghiệp khi muốn vươn ra biển lớn còn thiếu hụt kiến thức về văn hóa, tập quán và rào cản pháp lý sở tại. Ông Nguyễn Trọng Huê, Giám đốc HTX Sản xuất thương mại dịch vụ nông nghiệp Macca Ea H'leo (Đắk Lắk), thừa nhận việc cập nhật thiếu thông tin về những điều cấm kỵ trong văn hóa Hồi giáo suốt quá trình sản xuất, đóng gói vẫn là điểm yếu của HTX. Trong khi những điều này rất dễ dẫn đến sai sót, gây tổn hại uy tín thương hiệu của HTX trên thị trường.

Trong khi đó, PGS.TS Nguyễn Ngọc Hà, Phó Hiệu trưởng trường Luật và Khoa học chính trị (Đại học Ngoại thương) cho rằng rủi ro pháp lý khi xuất khẩu sang các nước có nhu cầu lớn về sản phẩm Halal trong khu vực ASEAN hiện nay là bởi mỗi nước như Indonesia, Malaysia hay Philippines đều có những quy định, tiêu chuẩn mẫu mã nhãn hàng hóa khác biệt rõ rệt.

Như Malaysia yêu cầu quảng bá sản phẩm Halal phải dùng đúng mẫu mã và dấu chứng nhận Halal theo quy chuẩn công nhận của JAKIM hoặc cơ quan được JAKIM ủy quyền tương thích. Việc sử dụng sai logo, tự ý in ấn logo Halal khi chưa được cấp phép, hoặc dùng nhãn mác không đúng biểu tượng quy định của Malaysia bị coi là vi phạm nghiêm trọng. Hành vi này không chỉ dẫn đến nguy cơ bị tịch thu hàng hóa, phạt tiền nặng, hủy giấy phép thông quan mà còn tổn hại nghiêm trọng đến uy tín thương hiệu của HTX trên thị trường.

Bệ phóng từ các thị trường trọng điểm

Vượt qua những điểm nghẽn về tiêu chuẩn, thị trường ASEAN vẫn chứa đựng những động lực tăng trưởng mạnh mẽ mà các HTX nông nghiệp và tiểu thủ công nghiệp hoàn toàn có thể khai thác.

Tại Indonesia, quốc gia với hơn 87,2% dân số theo đạo Hồi, nhu cầu về sản phẩm Halal là cực kỳ khổng lồ. Ông Phạm Thế Cường, Tham tán Thương mại Việt Nam tại Indonesia, đánh giá đây là thị trường dễ tính hơn so với Hoa Kỳ, EU hay Nhật Bản; lại có sự tương đồng về khí hậu và lợi thế so sánh lớn về nhóm hàng nông, lâm, thủy sản. Đặc biệt, dù quy định chứng nhận Halal là bắt buộc đối với thực phẩm, dược phẩm và mỹ phẩm khi xuất khẩu vào thị trường này, nhưng có một điểm mới là Indonesia đã gia hạn thời gian áp dụng bắt buộc các sản phẩm thực phẩm, dược phẩm và mỹ phẩm phải có chứng nhận Halal kéo dài đến tháng 10/2028. Đây là cơ hội vàng để hàng hóa và nông sản của các HTX khẩn trương thích ứng, hoàn thiện chứng nhận.

Kết quả khảo sát cho thấy yếu tố Halal và sự sạch sẽ chiếm tỷ lệ ưu tiên tuyệt đối (trên 96%) trong quyết định mua sắm của người tiêu dùng Indonesia, đòi hỏi các HTX phải minh bạch tuyệt đối về nguồn gốc và chất lượng.

Trong khi đó, thị trường Malaysia cũng mở ra nhiều dư địa ưu đãi lớn cho các HTX, doanh nghiệp đầu tư sản xuất sản phẩm đạt chuẩn Halal. Tuy nhiên, ông Phùng Văn Thành, Tham tán Thương mại Việt Nam tại Malaysia cảnh báo mức độ cạnh tranh tại đây rất khốc liệt, không chỉ giữa các doanh nghiệp nội địa mà còn phải đối đầu với hàng hóa từ Trung Quốc, Ấn Độ, Úc hay Nhật Bản. Cộng đồng dân cư Malaysia có sự phân hóa đa dạng về khẩu vị và tập quán tiêu dùng theo gốc dân tộc. Do đó, các HTX khi tiếp cận thị trường này phải nghiên cứu kỹ lưỡng khẩu vị ngách, đồng thời siết chặt khâu thẩm định đối tác thương mại để tránh những rủi ro lừa đảo, thiệt hại tài chính khi giao dịch qua các cảng trung chuyển quốc tế.

Để giúp các HTX khắc phục điểm yếu sản xuất nhỏ lẻ, tự tin đưa sản phẩm nông nghiệp và thực phẩm tiến sâu vào thị trường Halal ASEAN, các chuyên gia cho rằng việc hoàn thiện chuỗi giá trị khép kín và chuẩn hóa dữ liệu sẽ tạo thuận lợi trong việc hoàn thiện chứng nhận Halal, giúp kiểm soát từ vùng nguyên liệu, chế biến đến đóng gói, đảm bảo tuyệt đối không xảy ra tình trạng nhiễm chéo.

Theo bà Bá Thị Nguyệt Thu, các HTX cần chủ động tiếp cận hệ thống chứng nhận chuẩn hóa quốc tế, cần phối hợp chặt chẽ với các tổ chức tư vấn và cơ quan chức năng để rút ngắn thời gian hoàn thiện hồ sơ, hướng tới việc đạt được các chứng nhận uy tín, từ đó tạo "giấy thông hành" hợp pháp thâm nhập vào các hệ thống siêu thị và chuỗi bán lẻ lớn trong khu vực ASEAN.

Huyền Trang

VnBusiness