VnBusiness

VnBusiness

VnBusiness

Góc nhìn chuyên gia

GDP năm 2026 có thể đạt 10%, nhưng thành quả tăng trưởng phải lan tỏa rộng hơn

GDP năm 2026 có thể đạt 10%, nhưng thành quả tăng trưởng phải lan tỏa rộng hơn

Tăng trưởng GDP trên 9% đang tạo thêm dư địa để nâng việc làm, thu nhập và cải thiện đời sống người dân. Tuy nhiên, chênh lệch về nguồn lực, hạ tầng, năng lực thực thi và khả năng tiếp cận chính sách giữa các địa phương vẫn là rào cản khiến thành quả tăng trưởng chưa lan tỏa đồng đều, nhất là tại những vùng còn nhiều khó khăn.

Đó là nhận định của TS. Cấn Văn Lực, Chuyên gia kinh tế trưởng của BIDV- chia sẻ cùng VnBusiness bên lề Diễn đàn Kinh tế mới thường niên 2026, chiều 3/10. Ông đồng thời nhấn mạnh, để duy trì đà tăng trong những tháng cuối năm, Việt Nam cần đồng thời phát huy các thế mạnh truyền thống, thúc đẩy động lực tăng trưởng mới và xử lý những điểm nghẽn về thể chế, nguồn lực, chi phí và năng lực thực thi chính sách tại mỗi ngành, mỗi địa phương.

TS. Cấn Văn Lực, Chuyên gia kinh tế trưởng của BIDV.
TS. Cấn Văn Lực, Chuyên gia kinh tế trưởng của BIDV.

Tăng trưởng kinh tế đang có nhiều tín hiệu tích cực. Theo ông, những kết quả này có ý nghĩa như thế nào đối với việc tạo việc làm, nâng thu nhập và cải thiện đời sống người dân, nhất là các nhóm còn khó khăn?

Tôi cho rằng có 4 điểm tích cực rất quan trọng. Thứ nhất đó là đà tăng trưởng. Về cơ bản, tăng trưởng quý sau cao hơn quý trước, đặc biệt quý III lần đầu tiên đạt mức tăng trưởng 2 con số. Tính chung 9 tháng, tăng trưởng đạt khoảng trên 9%. Chúng tôi dự báo tăng trưởng cả năm có thể đạt 9,5-10%, với điều kiện quý IV phải tăng trưởng từ 11-12%, thậm chí cao hơn như định hướng Chính phủ đặt ra.

Thứ hai là các động lực tăng trưởng tương đối đồng đều. Ở phía cung, các lĩnh vực nông nghiệp, công nghiệp, xây dựng và dịch vụ đều tăng trưởng cao hơn khá nhiều so với cùng kỳ những năm trước, qua đó đóng góp ngày càng tích cực vào tăng trưởng chung.

Thứ ba là vốn đầu tư tăng khá tích cực. Năm nay, tổng vốn đầu tư tăng khoảng 15%. Trong đó, vốn đầu tư công của khu vực Nhà nước tăng trên 17%; đầu tư nước ngoài và đầu tư của khu vực tư nhân trong nước cũng tích cực hơn so với cùng kỳ năm trước.

Điều đáng lưu ý là chúng ta vẫn giữ được ổn định kinh tế vĩ mô. Lạm phát dù tăng lên nhưng vẫn đang xoay quanh mức 4,5% mà Quốc hội cho phép. Cả năm, chúng tôi dự báo lạm phát bình quân có thể ở mức khoảng 4,5-4,7%.

Thứ tư là sự chỉ đạo quyết liệt trong hoàn thiện thể chế, tháo gỡ khó khăn, vướng mắc. Đến nay, khoảng 3.500 dự án đã và đang được tích cực tháo gỡ, tạo ra nguồn lực đáng kể đóng góp cho tăng trưởng kinh tế - xã hội.

Bên cạnh đó, ứng dụng khoa học công nghệ, chuyển đổi số, chuyển đổi xanh và chuyển đổi năng lượng cũng đã có những kết quả tích cực ban đầu. Năng lượng tái tạo tăng đáng kể so với cùng kỳ năm trước. Nhiều bộ, ngành, địa phương cũng bắt đầu đẩy mạnh chuyển đổi số, nhất là trong dịch vụ công trực tuyến, tài chính - ngân hàng, bán lẻ..., qua đó tạo thêm những động lực tăng trưởng mới.

Để đạt mục tiêu tăng trưởng cao trong năm nay, theo ông những lĩnh vực nào cần tạo đột phá trong thời gian tới?

Chúng ta phải phát huy đồng thời động lực truyền thống và động lực mới. Với các động lực truyền thống, nông nghiệp, công nghiệp và xây dựng, đặc biệt là công nghiệp chế biến, chế tạo, cần tiếp tục duy trì mức tăng trưởng cao. Khu vực dịch vụ thời gian qua tăng trưởng tương đối tốt nhưng vẫn ở dưới 10%, vì vậy đây là khu vực còn dư địa để khai thác tốt hơn.

Đối với các động lực tăng trưởng mới, chúng ta phải thẳng thắn nhìn nhận rằng tốc độ phát huy vẫn còn chậm, nhất là khoa học công nghệ, chuyển đổi số, liên kết vùng và phát huy vai trò của các "đầu tàu" tăng trưởng như Hà Nội, TP.HCM và một số địa phương khác.

Một nhiệm vụ quan trọng nữa là tiếp tục xử lý các dự án tồn đọng, vướng mắc. Mặc dù đã có kết quả tích cực ban đầu, vẫn còn khoảng 1.500 dự án gặp nhiều ách tắc, khó khăn. Nếu được tháo gỡ hiệu quả, nguồn lực này sẽ tiếp tục đóng góp cho tăng trưởng.

Tuy nhiên, cùng với việc thúc đẩy tăng trưởng, chúng ta cũng phải kiểm soát tốt các rủi ro và trước hết là áp lực lạm phát. Trong thời gian qua, lạm phát có xu hướng tháng sau cao hơn tháng trước. Hết 9 tháng, lạm phát bình quân ở mức 4,52%, đã vượt ngưỡng 4,5% mà Quốc hội mong muốn. Áp lực cuối năm vẫn còn khi lượng tiền trong nền kinh tế, chi phí đầu vào, giá điện, dịch vụ y tế... có thể tiếp tục tác động đến mặt bằng giá.

Lãi suất cũng là vấn đề cần lưu ý. Mặt bằng lãi suất đối với doanh nghiệp và người vay vẫn tương đối cao, dù Chính phủ và Ngân hàng Nhà nước đã rất tích cực. Nhu cầu vốn lớn, các kênh đầu tư khác hấp dẫn, cùng với lãi suất và lạm phát thế giới ở mức cao khiến việc giảm lãi suất gặp nhiều khó khăn. Dù vậy, thời gian tới có thể tiếp tục giảm một phần lãi suất đối với các lĩnh vực, dự án ưu tiên.

Ngoài ra, cần quan tâm đến sự phát triển chưa đồng đều. Doanh nghiệp lớn và các địa phương lớn thường tiếp cận nguồn lực, chính sách hỗ trợ thuận lợi hơn so với doanh nghiệp nhỏ và vừa, hộ kinh doanh. Sự phân hóa này cần được cân bằng hơn để tạo môi trường phát triển hài hòa.

Để thành quả tăng trưởng không chỉ tập trung ở các đô thị, doanh nghiệp lớn hay những địa phương có lợi thế, theo ông cần làm gì để người dân ở khu vực nông thôn, miền núi, vùng sâu, vùng xa có thể tiếp cận tốt hơn với vốn, việc làm, khoa học công nghệ và cơ hội thị trường?

Chúng tôi nhận thấy có 7 nhóm khó khăn, vướng mắc lớn đối với nền kinh tế nói chung và kinh tế tư nhân nói riêng. Trong đó, trước hết phải kể đến sự thay đổi của cơ chế, chính sách. Thời gian qua có nhiều thay đổi về cơ chế, chính sách và pháp luật, trong khi doanh nghiệp, người dân chưa phải lúc nào cũng theo kịp. Tôi rất mong muốn chúng ta ứng dụng công nghệ thông tin, đặc biệt là AI, để hỗ trợ người dân và doanh nghiệp tiếp cận, hiểu và thực thi chính sách nhanh hơn, tốt hơn.

VnBusiness

Thời gian qua có nhiều thay đổi về cơ chế, chính sách và pháp luật, trong khi doanh nghiệp và người dân chưa phải lúc nào cũng theo kịp.

TS. Cấn Văn Lực Chuyên gia kinh tế trưởng của BIDV

Điểm thứ hai là khả năng tiếp cận nguồn lực. Doanh nghiệp nhỏ và vừa, hộ kinh doanh vẫn gặp khó khăn trong tiếp cận đất đai, vốn, khoa học công nghệ, lao động..., trong khi nguồn lực đang tập trung nhiều vào các dự án, chương trình và doanh nghiệp lớn.

Ba là chi phí gia tăng. Cả chi phí đầu vào và đầu ra đều tăng, trong khi giá bán không tăng hoặc tăng ít, khiến biên lợi nhuận bị thu hẹp trong bối cảnh đơn hàng còn bấp bênh.

Cùng với đó là sự thiếu đồng nhất trong thực thi chính sách. Việc thực thi tại một số địa phương còn chậm và chưa đồng nhất, khiến doanh nghiệp e ngại, thậm chí không dám triển khai vì lo ngại sai sót hoặc những vấn đề phát sinh về sau.

Tiếp đến là khó khăn về thị trường, gồm cả thị trường đầu vào và đầu ra. Ngoài ra là chi phí kinh doanh tăng, bao gồm chi phí chính thức như logistics, vận tải, lao động và cả những chi phí không chính thức.

Và cuối cùng là các động lực tăng trưởng mới chưa phát triển đồng đều. Mức độ ứng dụng khoa học công nghệ, chuyển đổi số, chuyển đổi xanh và chuyển đổi năng lượng giữa các doanh nghiệp, hộ kinh doanh còn rất khác nhau. Vì vậy, rất cần có sự hỗ trợ phù hợp và kịp thời hơn từ Nhà nước.

Chính sách chỉ thực sự phát huy hiệu quả khi đến được với người dân. Theo ông, cần tháo gỡ những điểm nghẽn nào về thông tin, thủ tục, hạ tầng số và năng lực thực thi ở cơ sở để các chính sách hỗ trợ sinh kế, giảm nghèo đến đúng đối tượng và tạo động lực để người dân tự vươn lên?

Mô hình chính quyền địa phương 2 cấp đã vận hành hơn một năm, nhưng năng lực thực thi của đội ngũ cán bộ, công chức cấp phường, xã vẫn còn nhiều khó khăn, thách thức. Công nghệ hỗ trợ chưa tương xứng, trong khi quy trình, thủ tục vẫn còn phức tạp, nhiều giấy tờ, dẫn đến quá tải.

Qua khảo sát tại một số địa phương miền núi, đặc biệt là miền núi phía Bắc, chúng tôi nhận thấy vẫn còn khá nhiều hạn chế cần được tháo gỡ.

Trước hết là khả năng tiếp cận thông tin và chính sách. Việc tiếp cận thông tin của người dân còn khó khăn; khoảng 70% cơ chế, chính sách mới hiện vẫn chủ yếu được tiếp cận qua mạng xã hội. Vì vậy, các kênh thông tin chính thống cần được đầu tư và phát huy tốt hơn.

Thứ hai là cách thức hướng dẫn thực hiện chính sách. Văn bản hướng dẫn hiện còn nhiều, dài và phức tạp. Tôi mong muốn các sở, ban, ngành địa phương ứng dụng AI và khoa học công nghệ để xây dựng những bản tóm tắt ngắn gọn, dễ hiểu, giúp người dân và doanh nghiệp biết mình cần làm gì và làm như thế nào.

Thứ ba là hạ tầng số. Người dân có nhu cầu ứng dụng công nghệ, chuyển đổi số nhưng hạ tầng mạng, dữ liệu và trang thiết bị tại một số khu vực còn hạn chế, bất cập, khiến việc triển khai chưa đạt hiệu quả như mong muốn.

Cuối cùng là thủ tục hành chính. Hiện nay, ở một số nơi vẫn phải thực hiện song song cả thủ công và điện tử, khiến khối lượng công việc tăng lên khoảng 1,5 lần. Nếu chuyển đổi số nhưng lại làm tăng thêm thủ tục thì sẽ không đạt được mục tiêu.

Do đó, chuyển đổi số cần đi cùng với đơn giản hóa quy trình, chuẩn hóa dữ liệu và nâng cao năng lực thực thi ở cơ sở. Khi người dân có thể dễ dàng tiếp cận thông tin, hiểu chính sách và thực hiện thủ tục trên môi trường số, công nghệ mới thực sự trở thành công cụ thu hẹp khoảng cách vùng miền và tạo thêm động lực cho phát triển kinh tế.

Xin trân trọng cảm ơn ông!

Hồng Hương thực hiện

Video Từ ruộng đến thị trường: HTX số hoá đơn hàng như thế nào?

Đằng sau những đơn hàng rau củ là cả chuỗi dữ liệu về vùng nguyên liệu, sản lượng, thu hoạch, chất lượng và giao hàng. Tại HTX Vườn Nhà Đà Lạt, chuyển đổi số đang giúp những dữ liệu ấy được kết nối, từ đó tổ chức sản xuất và đưa nông sản đến thị...

VnBusiness