VnBusiness

VnBusiness

VnBusiness
VnBusiness

Thị trường

Đo 'sức khỏe' doanh nghiệp

Đo 'sức khỏe' doanh nghiệp

Tính đến thời điểm 1/7/2017, cả nước có gần 517,9 nghìn doanh nghiệp (DN) đang tồn tại nhưng chỉ có 10,1 nghìn DN lớn, chiếm tỷ lệ khiêm tốn 1,9%; số DN nhỏ, vừa và siêu nhỏ chiếm tới 98,1%. Thậm chí, DN đang có xu hướng nhỏ dần khi xét về quy mô lao động bình quân.

Theo báo cáo kết quả chính thức Tổng điều tra kinh tế năm 2017 được Tổng cục Thống kê công bố ngày 19/9, tính đến thời điểm 1/7/2017, cả nước có gần 517,9 nghìn DN đang tồn tại, tăng 176,3 nghìn DN – tăng 51,6% so với đầu năm 2012. Khối DN thu hút hơn 14 triệu lao động, tăng 28,2% (tương đương 3,1 triệu người).

Cải thiện hiệu quả kinh doanh

Dù số lượng nhiều như vậy nhưng chỉ có 10,1 nghìn DN lớn, chiếm tỷ lệ khiêm tốn 1,9%. Số DN nhỏ, vừa và siêu nhỏ chiếm tới 98,1%.

Tổng cục Thống kê đánh giá, kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh trong năm 2016 của DN được cải thiện hơn 5 năm trước. Doanh thu thuần của khu vực DN năm 2016 đạt 17.858 nghìn tỷ đồng, tăng 71,6% (7.450 tỷ đồng) so với năm 2011, doanh thu thuần bình quân năm giai đoạn 2011-2016 tăng 11,4% (tương đương 1.400 nghìn tỷ đồng).

Khu vực DN ngoài nhà nước có doanh thu thuần tăng 78,8% (tương đương 4.402 nghìn tỷ đồng) so với năm 2011 và chiếm tỷ trọng cao nhất với 55,9% tổng doanh thu thuần của toàn bộ khu vực DN. Doanh thu thuần bình quân năm giai đoạn 2011-2016 khu vực này đạt cao nhất với 880,5 nghìn tỷ đồng (tăng 12,3%).

Khu vực DN có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) có doanh thu thuần tăng mạnh nhất với 134,5% so với năm 2011, chiếm 27,4% tổng doanh thu thuần, doanh thu thuần bình quân năm đạt 560,7 nghìn tỷ đồng (tăng 18,6%), tuy nhiên lại thấp hơn khu vực DN ngoài nhà nước.

Tỷ trọng doanh thu thuần thấp nhất là khu vực DNNN chỉ chiếm 16,7%, doanh thu thuần của khu vực DN này tăng thấp nhất với 244 nghìn tỷ đồng (tăng 8,9%), doanh thu thuần bình quân năm tăng 1,7% (tương đương 48,8 nghìn tỷ đồng).

Bên cạnh đó, về hiệu suất sinh lời trên tài sản (tính bằng tổng lợi nhuận trước thuế/tổng tài sản) năm 2016 đạt 2,7% (cao hơn mức 2,5% của năm 2011). Khu vực DN FDI có hiệu suất sinh lời trên tài sản năm 2016 đạt cao nhất và vượt trội so với các loại hình DN khác với 6,9% (cao hơn mức 4,8% của năm 2011), tiếp đến là khu vực DNNN đạt 2,6% (thấp hơn mức 3,2% của năm 2011) và thấp nhất là khu vực DN ngoài nhà nước 1,4% (năm 2011 là 1,2%).

Hiệu suất sinh lời trên doanh thu (tính bằng tổng lợi nhuận trước thuế/tổng doanh thu) của toàn bộ khu vực DN năm 2016 đạt 4% (cao hơn mức 3,2% của năm 2011).

DN FDI và DNNN là hai loại hình DN có tỷ suất lợi nhuận trên doanh thu năm 2016 đạt khá cao với 6,7% và 6,6% (năm 2011 là 5,2% và 5,1%), các DN ngoài nhà nước có tỷ suất sinh lời trên doanh thu đạt thấp nhất với 1,9% (năm 2011 là 1,5%).

Bà Lê Thị Duyên Hải, Vụ trưởng Vụ Kê khai và Kế toán thuế, Tổng cục Thuế, lý giải các tỷ lệ chỉ số về hiệu quả sinh lời của khu vực DN ngoài nhà nước chưa bằng DNNN và DN FDI là do số lượng DN ngoài nhà nước lớn nhưng quy mô nhỏ, công nghệ lạc hậu.

Khu vực DN ngoài nhà nước có trình độ quản trị và năng lực tốt hơn nhưng chỉ với DN ngoài nhà nước quy mô lớn, còn đa số quy mô nhỏ nên có hiệu suất sinh lời thấp.

Ông Nguyễn Bích Lâm, Tổng cục trưởng Tổng cục Thống kê, đánh giá kết quả tổng điều tra kinh tế cho thấy quy mô của nền kinh tế ngày càng mở rộng, số lượng DN tăng mỗi năm. Tuy nhiên, DN đang có xu hướng nhỏ dần về quy mô lao động bình quân, sự manh mún của cơ sở sản xuất kinh doanh cá thể và tiến trình xã hội hóa các hoạt động sự nghiệp còn diễn ra khá chậm.

84,6% DN mong muốn Chính phủ và các cơ quan nhà nước tìm cách đơn giản hóa thủ tục hành chính khi Việt Nam thực hiện các FTA
84,6% DN mong muốn Chính phủ và các cơ quan nhà nước tìm cách đơn giản hóa thủ tục hành chính khi Việt Nam thực hiện các FTA

Cải cách thủ tục để hội nhập

Về mức độ sẵn sàng tham gia hội nhập quốc tế của DN, theo Tổng cục Thống kê, từ kết quả điều tra mẫu 3.500 DN thuộc ngành chế biến, chế tạo (ngành có nhiều DN quy mô lớn, chịu tác động và ảnh hưởng nhiều từ hội nhập quốc tế) cho thấy có tới 94,5% DN cho rằng biết đến các hiệp định thương mại (FTA) mà Việt Nam tham gia. Chỉ có 5,5% DN không biết đến các hiệp định.

Có tới 83,9% DN ủng hộ Việt Nam tham gia các FTA (trong đó 53,3% DN rất ủng hộ; 30,6% DN ủng hộ nhưng vẫn lo lắng), 2,9% DN cho rằng ký cũng được mà không ký cũng được, 12,6% DN không có ý kiến, chỉ có 0,6% DN hoàn toàn phản đối.

Tỷ lệ DN đánh giá ảnh hưởng đến sản xuất kinh doanh của các FTA mà Việt Nam đã ký với các đối tác như sau: Hiệp định với Cộng đồng kinh tế ASEAN có tới 81,1% số DN đánh giá có ảnh hưởng; Hiệp định Đối tác xuyên Thái Bình Dương: 77,1%; Việt Nam – Nhật Bản: 69,1%; Việt Nam – Hàn Quốc: 62,4%; Việt Nam – Liên minh châu Âu: 61,0%; Việt Nam – Liên minh kinh tế Á-Âu: 57,6%; các hiệp định khác chỉ có 5,6%.

Đánh giá về ảnh hưởng có lợi khi quan hệ với các đối tác nước ngoài, có 42,1% DN lạc quan với đối tác khu vực Đông Á – Thái Bình Dương; 42,0% DN lạc quan với đối tác Mỹ; 35% DN lạc quan với đối tác Đông Nam Á và châu Âu; 23,6% DN lạc quan với đối tác Trung Quốc và 20,7% DN lạc quan với đối tác châu Mỹ La tinh.

Khi đề cập đến những mong muốn của DN từ Chính phủ và các cơ quan nhà nước nhằm hỗ trợ các DN khi Việt Nam thực hiện các FTA, có tới 84,6% DN mong muốn đơn giản hóa thủ tục hành chính, 69,4% DN muốn được hỗ trợ cung cấp và hướng dẫn chi tiết thông tin về hiệp định, 55,3% DN muốn có được thông tin về thị trường nước ngoài từ Chính phủ và các cơ quan quản lý nhà nước, 48,9% DN muốn có thông tin về thị trường trong nước.

Thy Lê

}

Ba ba gai Cát Thịnh “mỏ vàng” mới từ kinh tế ao nuôi

Dưới những ao nuôi được kè bờ chắc chắn ở thôn Văn Hưng, xã Cát Thịnh, tỉnh Lào Cai, những con ba ba gai thương phẩm đang được HTX Chăn nuôi ba ba gai Cát Thịnh chăm sóc cẩn trọng. Mỗi con có giá từ 3 đến 5 triệu đồng, chưa kể hàng vạn con giống...

VnBusiness