
15,7 triệu tấn tro xỉ từ 20 nhà máy nhiệt điện mỗi năm chưa có giải pháp xử lý
Theo Bộ Công Thương, hiện nay có 20 nhà máy nhiệt điện than đang vận hành với lượng tro xỉ, thạch cao thải ra hơn 15,7 triệu tấn/năm. Tuy nhiên, các nhà máy chưa tìm được giải pháp đầu ra cho tro xỉ theo đúng tinh thần chỉ đạo của Thủ tướng.
Vướng mắc lớn nhất là nhiều doanh nghiệp sản xuất xi măng, gạch không nung có khả năng sử dụng sử dụng tro, xỉ của nhà máy nhiệt điện làm nguyên liệu sản xuất nhưng lại không đủ điều kiện tiếp nhận tro xỉ
Tại hội thảo bàn về vấn đề bảo vệ môi trường tại các nhà máy nhiệt điện do Bộ Công Thương tổ chức ngày 4/10. Báo cáo cho biết, hiện có 20 nhà máy nhiệt điện than đang vận hành với lượng tro xỉ, thạch cao thải ra hơn 15,7 triệu tấn/năm.
Tuy nhiên, các nhà máy chưa tìm được giải pháp đầu ra cho lượng tro xỉ, thạch cao này. Vướng mắc lớn nhất là nhiều doanh nghiệp sản xuất xi măng, gạch không nung có khả năng sử dụng sử dụng tro, xỉ của nhà máy nhiệt điện làm nguyên liệu sản xuất nhưng lại không đủ điều kiện tiếp nhận tro xỉ theo quy định của Nghị định số 38/2015/NĐ-CP ngày 24 tháng 4 năm 2015 và thiếu các Quy chuẩn kỹ thuật đối với tro xỉ làm vật liệu xây dựng, vật liệu san nền.
Đối với nước thải của nhà máy nhiệt điện thì chủ yếu chỉ có nước làm mát bình ngưng là thải ra môi trường, còn lại các loại nước thải xỉ, nước thải từ hoạt động sản xuất của các phân xưởng trong nhà máy được thu gom và tái sử dụng không xả thải ra môi trường.
Trong số các nhà máy nhiệt điện đốt than hiện nay chỉ có 2 nhà máy (Duyên hải 1 – EVN và Vũng Áng – PVN) sử dụng nước làm mát để xử lý khí thải SOx trước khi thải ra môi trường. Nước làm mát bình ngưng chỉ được châm clo để diệt khẩn với nồng độ dưới 1ppm trước khi đi vào hệ thống nên về bản chất, thành phần và tính chất của nước làm mát bình ngưng không thay đổi trước và sau khi làm mát, thải ra môi trường.
Trước những tồn tại trong công tác bảo vệ môi trường tại các nhà máy Nhiệt điện nêu trên, Bộ Công Thương đã chỉ đạo, đối với các dự án đang xây dựng, chưa đi vào vận hành yêu cầu chủ đầu tư phải thực hiện đầy đủ các cam kết trong báo cáo đánh giá tác động môi trường (ĐTM) đã được Bộ Tài nguyên và Môi trường phê duyệt. Các hạng mục công trình có sự thay đổi so với ĐTM ban đầu thì chỉ được triển khai thực hiện khi đã có sự chấp thuận của cơ quan phê duyệt ĐTM.
Đồng thời, yêu cầu nhà thầu và chủ đầu tư phải hoàn thành đầy đủ các hạng mục, công trình bảo vệ môi trường theo cam kết trong ĐTM. Trong giai đoạn vận hành thử nghiệm các công trình bảo vệ môi trường cần thông báo rộng rãi đến chính quyền địa phương, cơ quan phê duyệt ĐTM về hoạt động vận hành thử nghiệm để chính quyền và người dân địa phương cùng giám sát. Sau quá trình vận hành thử nghiệm (thời gian 6 tháng) cần hoàn thiện hồ sơ xác nhận hoàn thành các công trình bảo vệ môi trường gửi cơ quan phê duyệt ĐTM xem xét, xác nhận.
Đối với các nhà máy đang hoạt động, Bộ Công Thương đã yêu cầu các nhà máy tuân thủ đầy đủ cam kết về quan trắc và giám sát môi trường đã được phê duyệt trong ĐTM. Đối với các dự án đang trong giai đoạn thiết kế và trình phê duyệt, Bộ Công Thương chỉ đạo các chủ đầu tư yêu cầu tư vấn thiết kế phải tính toán và đưa ra các giải pháp công nghệ tiến tiến, gắn liền với hệ thống kiểm soát và xử lý chất thải.
L.L

Tăng vọt 2,2 triệu đồng, vàng nhẫn và vàng miếng cùng lập đỉnh
Agribank thu xếp tín dụng 25.453 tỷ cho đường vành đai 4
Bất ngờ với số vốn điều lệ của kỳ lân công nghệ MoMo

Công nghệ số đang tái định hình thị trường lao động Việt Nam như thế nào?
Hacker săn dữ liệu: 17,5 triệu tài khoản Instagram bị lộ
Nhiều yếu tố thuận lợi thúc đẩy thị trường trung tâm dữ liệu Việt Nam
70 triệu việc làm tăng ròng trong kỷ nguyên AI: Cú xoay trục của thị trường lao động
Phụ nữ giữ nhịp sản xuất, kiến tạo chuỗi giá trị nông nghiệp xanh
Công cuộc đổi mới mô hình tăng trưởng, chuyển đổi xanh và phát triển bền vững tại Việt Nam đang chứng kiến sự vươn mình mạnh mẽ của phụ nữ, gắn liền với yêu cầu tái cấu trúc nền kinh tế và nâng cao chất lượng tăng trưởng.
Đừng bỏ lỡ
Chuyển đổi số: Cơ hội nâng cao giá trị nông sản vùng cao Quảng Trị
Không chỉ dừng lại ở sản xuất truyền thống, các HTX vùng cao Quảng Trị đang từng bước tận dụng nền tảng số để quảng bá và tiêu thụ nông sản. Việc ứng dụng công nghệ thông tin, thương mại điện tử đã giúp những sản phẩm gắn với bản làng, văn hóa đồng...





























