
Bất cập hoạt động ngoại hối biên giới Việt – Trung
G ần đây, tình trạng thành lập đại lý đổi tiền Nhân dân tệ tại các vùng biên giới Việt – Trung diễn ra tràn lan, gây khó khăn cho cơ quan quản lý, ảnh hưởng đến công tác điều hành chính sách tiền tệ, ngoại hối của Nhà nước.
Thời gian qua, Ngân hàng Nhà nước (NHNN) đã ban hành nhiều văn bản phục vụ cho công tác thanh toán biên mậu nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động xuất nhập khẩu qua biên giới và công tác quản lý của các cơ quan nhà nước.
Tuy nhiên, NHNN cho rằng những văn bản này đến nay đã không còn phù hợp với thực tiễn. Do đó, cần phải có quy định riêng về quản lý hoạt động ngoại hối biên giới Việt – Trung.
Quyết định 689 không còn phù hợp
Trước đây, mạng lưới hoạt động của các ngân hàng tại khu vực biên giới chưa phát triển, hoạt động của bàn đổi tiền cá nhân tại khu vực biên giới, cửa khẩu đã tạo thuận lợi cho hoạt động mua bán, trao đổi hàng hóa nhỏ lẻ của cư dân biên giới, khách du lịch và nhu cầu thanh toán xuất nhập khẩu tiểu ngạch, từ đó thúc đẩy hoạt động thương mại biên giới.
Nhưng hiện nay, giao thương qua đường biên giới giữa hai nước Việt Nam và Trung Quốc ngày càng phát triển, hoạt động của các bàn đổi ngoại tệ cá nhân, đặc biệt bàn đổi tiền Nhân dân tệ, đã bộc lộ nhiều bất cập.
Chỉ ra những hạn chế, ông Nguyễn Ngọc Cảnh – Vụ trưởng Vụ Quản lý ngoại hối (NHNN), cho biết, hồ sơ, thủ tục cấp phép thành lập bàn đổi ngoại tệ cá nhân còn đơn giản, dẫn đến tình trạng các bàn đổi ngoại tệ cá nhân thành lập tràn lan, gây khó khăn cho cơ quan quản lý, ảnh hưởng đến công tác điều hành chính sách tiền tệ, ngoại hối.
Mặc dù đã có quy định về thu hồi Giấy phép đối với trường hợp vi phạm của bàn đổi ngoại tệ cá nhân nhưng do đối tượng áp dụng là cá nhân nên việc xử lý các trường hợp sai phạm gặp nhiều khó khăn, không đảm bảo vai trò quản lý hiệu quả của cơ quan quản lý nhà nước.
Hiện tại, nội dung về hoạt động đại lý đổi ngoại tệ của tổ chức kinh tế được quy định tại Nghị định số 89/2016/NĐ-CP, quy định điều kiện đối với hoạt động đại lý đổi ngoại tệ, hoạt động cung ứng dịch vụ nhận và chi, trả ngoại tệ của tổ chức kinh tế.
Tại Điều 4 Nghị định 89 quy định không phân biệt điều kiện đối với hoạt động đại lý đổi tiền của nước có chung biên giới với hoạt động đại lý đổi ngoại tệ khác.
Tuy nhiên, do khu vực biên giới và khu kinh tế cửa khẩu có những đặc thù riêng biệt, đồng thời hoạt động sử dụng đồng tiền của nước có chung biên giới với Việt Nam còn được thực hiện theo quy định tại các Hiệp định giữa Việt Nam và những nước có chung biên giới.
Vì vậy, NHNN cho rằng hoạt động đại lý đổi tiền của nước có chung biên giới cũng cần có những điều kiện, quy định riêng nhằm vừa đảm bảo kiểm soát chặt chẽ, vừa phát huy hiệu quả sử dụng tiền của nước có chung biên giới và thúc đẩy hoạt động thương mại qua biên giới phát triển mạnh mẽ.
Trong khi đó, hoạt động thanh toán trong mua bán, trao đổi hàng hóa và dịch vụ tại khu vực biên giới, khu kinh tế cửa khẩu Việt Nam – Trung Quốc thực hiện theo quy định tại Quyết định 689/2004/QĐ-NHNN.
“Vì vậy, Quyết định này đến nay không còn phù hợp, được quy định tại văn bản khác và đã phát sinh một số nội dung mới cần phải có quy định hướng dẫn cho phù hợp với quy định của Nhà nước mới ban hành”, ông Cảnh khẳng định.
Hồ sơ, thủ tục cấp phép thành lập bàn đổi ngoại tệ cá nhân còn đơn giản, dẫn đến tình trạng các bàn đổi ngoại tệ cá nhân thành lập tràn lan, gây khó khăn cho cơ quan quản lý, ảnh hưởng đến công tác điều hành chính sách tiền tệ, ngoại hối.
Sẽ sửa đổi quy định
Đại diện NHNN khẳng định NHNN đã tiến hành rà soát, thực hiện xây dựng dự thảo Nghị định sửa đổi, bổ sung Nghị định 89 và Thông tư hướng dẫn quản lý ngoại hối đối với hoạt động thương mại biên giới Việt – Trung theo hướng: quy định tách biệt đối tượng tổ chức kinh tế thực hiện hoạt động đại lý đổi ngoại tệ (không bao gồm tiền của nước có chung biên giới) với đối tượng tổ chức kinh tế thực hiện hoạt động đại lý đổi tiền của nước có chung biên giới.
Theo ông Cảnh, mục đích của việc xây dựng các văn bản này là nhằm tạo hành lang pháp lý đầy đủ, cho phép các tổ chức kinh tế làm đại lý đổi tiền của nước có chung biên giới để đáp ứng nhu cầu thực tiễn và yêu cầu quản lý tiền của nước có chung biên giới hiện nay, đồng thời tăng cường sự quản lý, giám sát của Nhà nước đối với hoạt động đổi tiền của nước có chung biên giới theo hướng thu về một đầu mối kiểm soát qua các tổ chức tín dụng.
Cùng với đó, khuyến khích việc sử dụng đồng bản tệ trong thanh toán tại khu vực biên giới, khu kinh tế cửa khẩu, nhằm tạo thuận lợi cho hoạt động thương mại biên giới ngày càng phát triển.
NHNN đã xây dựng Thông tư hướng dẫn về quản lý ngoại hối đối với hoạt động thương mại biên giới Việt – Trung thay thế Quyết định số 689 nhằm tạo cơ sở pháp lý đồng bộ, hướng dẫn hoạt động thanh toán trong thương mại biên giới Việt – Trung phù hợp với các quy định mới của pháp luật. Qua đó, sẽ giải quyết những tồn tại, vướng mắc bất cập và phù hợp với tình hình mới.
Tại Hội nghị Quản lý hoạt động ngoại hối về thương mại biên giới Việt Nam – Trung Quốc, NHNN đã lấy ý kiến đóng góp của các đơn vị, cá nhân trong và ngoài ngành ngân hàng để hoàn thiện dự thảo, bảo đảm phù hợp với tình hình thực tiễn trước khi ban hành.
Huyền Anh

Thủ tướng yêu cầu mở “luồng xanh” cho nhà vừa túi tiền, đặt nhà ở xã hội ở vị trí trung tâm
VIC trở lại, VN-Index vượt 1.900 điểm
Bất động sản REE quyết tâm thoái bớt vốn tại Saigonres

Novaland bảo lãnh khoản vay hơn 2.300 tỷ đồng cho Ngân Hiệp, hệ sinh thái liên đới Đồ hộp Hạ Long gặp biến cố
Vì sao CEO Vinasun không mua cổ phiếu VNS?
Đại gia địa ốc xoay xở ‘gỡ bom’ nợ trái phiếu
Hết thời 'đại tiệc', M&A đang trở thành 'công cụ sinh tồn' cho đại gia địa ốc
Phụ nữ giữ nhịp sản xuất, kiến tạo chuỗi giá trị nông nghiệp xanh
Công cuộc đổi mới mô hình tăng trưởng, chuyển đổi xanh và phát triển bền vững tại Việt Nam đang chứng kiến sự vươn mình mạnh mẽ của phụ nữ, gắn liền với yêu cầu tái cấu trúc nền kinh tế và nâng cao chất lượng tăng trưởng.
Đừng bỏ lỡ
Chuyển đổi số: Cơ hội nâng cao giá trị nông sản vùng cao Quảng Trị
Không chỉ dừng lại ở sản xuất truyền thống, các HTX vùng cao Quảng Trị đang từng bước tận dụng nền tảng số để quảng bá và tiêu thụ nông sản. Việc ứng dụng công nghệ thông tin, thương mại điện tử đã giúp những sản phẩm gắn với bản làng, văn hóa đồng...



























