VnBusiness

VnBusiness

VnBusiness

Tiêu điểm

Vùng nguyên liệu vào guồng mới: Làm gì để 70% lên bản đồ số?

Vùng nguyên liệu vào guồng mới: Làm gì để 70% lên bản đồ số?

Khi các thị trường nhập khẩu liên tục điều chỉnh yêu cầu về kiểm dịch và dư lượng thuốc bảo vệ thực vật (MRL), áp lực kiểm soát chất lượng đang dồn về tận vùng sản xuất. Mục tiêu đến năm 2030 có trên 70% vùng nguyên liệu được lập bản đồ số vì thế không chỉ phục vụ truy xuất, mà còn giúp nhận diện rủi ro và tổ chức lại sản xuất ngay từ đầu chuỗi.

Mới đây, Hiệp hội Hồ tiêu và Cây gia vị Việt Nam (VPSA) cho biết Văn phòng SPS Việt Nam đã gửi đến các doanh nghiệp (DN) hội viên một số thông báo mới từ các thành viên WTO trong nửa đầu tháng 9/2026. Các yêu cầu về kiểm dịch, an toàn thực phẩm và dư lượng thuốc bảo vệ thực vật đang tạo áp lực kiểm soát chất lượng từ nguyên liệu đến sản xuất, chế biến và xuất khẩu (XK) gia vị.

Áp lực dồn ngược về vùng nguyên liệu

Những yêu cầu này cho thấy hoạt động sản xuất và XK gia vị đang chịu sức ép kiểm soát từ nhiều thị trường. Đáng chú ý, Đài Loan (Trung Quốc) thông báo dự thảo G/SPS/N/TPKM/659 sửa đổi yêu cầu kiểm dịch đối với thực vật và sản phẩm thực vật nhập khẩu.

Vùng nguyên liệu được kiểm soát chặt từ sản xuất là cơ sở để nông sản Việt đáp ứng yêu cầu về kiểm dịch, dư lượng và truy xuất nguồn gốc khi xuất khẩu.
Vùng nguyên liệu được kiểm soát chặt từ sản xuất là cơ sở để nông sản Việt đáp ứng yêu cầu về kiểm dịch, dư lượng và truy xuất nguồn gốc khi xuất khẩu.

Theo dự thảo, Việt Nam được bổ sung vào danh sách khu vực bị nhiễm một số sinh vật gây hại. Danh sách gồm Frankliniella occidentalis, Pseudomonas syringae pv. syringae và Potato spindle tuber viroid.

Trong kỳ thông báo SPS từ ngày 1 đến 15/9/2026, chưa ghi nhận quy định mới nêu đích danh hồ tiêu, quế, gừng, nghệ hoặc ớt Việt Nam để áp dụng biện pháp kiểm soát tăng cường. Tuy nhiên, VPSA lưu ý các DN tiếp tục theo dõi xu hướng điều chỉnh MRL thuốc bảo vệ thực vật tại Canada và các thị trường nhập khẩu lớn. Bởi lẽ, mức MRL có thể khác Codex (tiêu chuẩn thực phẩm quốc tế) và được điều chỉnh theo từng nhóm cây trồng.

Các thay đổi này cho thấy yêu cầu XK không chỉ được xử lý ở khâu kiểm nghiệm cuối cùng mà phải được kiểm soát từ vùng nguyên liệu. DN cần biết nguyên liệu đến từ đâu, được sản xuất thế nào và có thể kiểm chứng ra sao. Với các ngành hàng như hồ tiêu, quế, gừng, nghệ, ớt, kiểm soát dư lượng càng không thể chỉ dừng ở nhà máy.

DN cần nắm được vùng sản xuất, loại thuốc sử dụng, thời điểm phun và thời gian cách ly để kịp ứng phó khi yêu cầu nhập khẩu thay đổi. Nếu dữ liệu không được ghi nhận ngay từ đầu chuỗi, phản ứng trước một thay đổi về MRL hay kiểm dịch sẽ chậm hơn. Bài toán vùng nguyên liệu vì thế đang chuyển từ “có đủ hàng hay không” sang “có kiểm soát được hàng hay không”.

Điều đó cũng đặt ra yêu cầu kiểm soát rủi ro xuyên suốt chuỗi, thay vì chỉ kiểm tra ở khâu cuối. Ông Peter Johnson, chuyên gia quốc tế của UNIDO về nông nghiệp, cho rằng hiệu quả của chuỗi giá trị nông sản Việt không chỉ phụ thuộc vào sản lượng mà còn ở khả năng kiểm soát chất lượng và rủi ro trong từng khâu.

Áp lực SPS, MRL và kiểm dịch đang dội ngược từ cửa khẩu về vùng sản xuất. Bản đồ số cùng nhật ký điện tử giúp xác định vùng nguyên liệu, lịch sử canh tác và khoanh vùng rủi ro khi yêu cầu nhập khẩu thay đổi.

Từ yêu cầu này, việc số hóa vùng nguyên liệu có thể tạo thêm cơ sở để kiểm soát sản xuất ngay từ đầu chuỗi. Dữ liệu về vùng sản xuất, quy mô, lịch sử canh tác và vật tư sử dụng giúp nhận diện những khu vực có nguy cơ khi yêu cầu về MRL hoặc kiểm dịch thay đổi.

Đây cũng là lý do VPSA khuyến nghị DN tiếp tục theo dõi xu hướng điều chỉnh MRL tại Canada và các thị trường nhập khẩu lớn. Một loại nông sản có thể đáp ứng thị trường này nhưng chưa chắc phù hợp thị trường khác nếu yêu cầu về dư lượng, kiểm dịch hoặc tiêu chuẩn liên quan khác nhau. Khi phục vụ nhiều thị trường, việc biết chính xác vùng nào đang sản xuất theo quy trình nào trở thành điều kiện để phân loại và điều chỉnh đầu ra.

Khoảng trống này cũng là mục tiêu của Đề án “Phát triển vùng nguyên liệu nông, lâm, thủy sản tập trung giai đoạn 2026-2030”, được Bộ Nông nghiệp và Môi trường phê duyệt trong tháng 8/2026. Đề án đặt mục tiêu đến năm 2030 có trên 70% vùng nguyên liệu được hỗ trợ lập bản đồ số hóa, tối thiểu 60% diện tích áp dụng nhật ký sản xuất điện tử và hệ thống truy xuất nguồn gốc.

Bản đồ số kết hợp nhật ký điện tử có thể cung cấp thông tin về vùng sản xuất, quy mô, lịch sử canh tác và vật tư sử dụng. Khi yêu cầu MRL hoặc kiểm dịch thay đổi, DN có thể dựa vào dữ liệu này để xác định vùng có nguy cơ, điều chỉnh quy trình hoặc khoanh vùng xử lý.

Mục tiêu trên 70% vùng nguyên liệu được lập bản đồ số vì vậy không chỉ là chỉ tiêu chuyển đổi số. Đây là công cụ giúp kiểm soát rủi ro từ đầu chuỗi và nâng khả năng đáp ứng tiêu chuẩn của từng vùng nguyên liệu.

Đầu tư đúng điểm nghẽn

Tuy nhiên, số hóa không thể thay thế những điểm yếu về hạ tầng và tổ chức sản xuất. Đề án “Phát triển vùng nguyên liệu nông, lâm, thủy sản tập trung giai đoạn 2026-2030” đặt mục tiêu giảm tối thiểu 10% chi phí vận chuyển, 10-15% thời gian thu gom và 8-10% tỷ lệ hao hụt sau thu hoạch. Trên 80% hợp tác xã tham gia vùng nguyên liệu được bồi dưỡng năng lực quản trị và dữ liệu.

Khoảng 70% vùng nguyên liệu được kỳ vọng có sự tham gia của hợp tác xã và ít nhất một DN liên kết; tối thiểu 60% sản lượng được tiêu thụ qua hợp đồng. Những mục tiêu này cho thấy dữ liệu chỉ phát huy giá trị khi đi cùng hạ tầng, tổ chức sản xuất và đầu ra.

Như chia sẻ của ông Peter Johnson, đầu tư vùng nguyên liệu cần bắt đầu bằng việc xác định đúng điểm nghẽn trong chuỗi cung ứng, sau đó mới lựa chọn phương án dựa trên chi phí, lợi ích và rủi ro. Cách tiếp cận như vậy giúp tránh tình trạng đầu tư theo một mô hình chung, trong khi mỗi vùng lại có một vấn đề khác nhau.

Quan điểm này đáng chú ý khi tổng nhu cầu vốn thực hiện Đề án giai đoạn 2026-2030 dự kiến khoảng 23.647 tỷ đồng. Trong đó, ngân sách trung ương khoảng 1.655 tỷ đồng, ngân sách địa phương 6.705 tỷ đồng và nguồn xã hội hóa 15.288 tỷ đồng, chủ yếu dành cho giống, vật tư, cơ giới hóa, sơ chế, chế biến sâu và logistics.

Với nguồn lực lớn như thế, bài toán không chỉ là huy động đủ vốn mà phải đưa vốn đến đúng nơi đang làm giảm hiệu quả của chuỗi. Nơi thu gom chậm cần ưu tiên giao thông và điểm tập kết, trong khi vùng hao hụt cao cần đầu tư kho bảo quản, sơ chế. Với vùng có lợi thế XK nhưng khó kiểm soát dư lượng, cần tập trung vào dữ liệu sản xuất, nhật ký điện tử và truy xuất.

Đề án phát triển vùng nguyên liệu nông, lâm, thủy sản tập trung giai đoạn 2026-2030 dự kiến cần 23.647 tỷ đồng. Nguồn lực này cần được phân bổ đúng điểm nghẽn, từ giao thông, thu gom, bảo quản đến dữ liệu sản xuất và đầu ra.

Bản đồ số vì vậy không chỉ phục vụ truy xuất mà còn hỗ trợ quyết định đầu tư. Dữ liệu cho phép nhận diện vùng thiếu hạ tầng, hao hụt cao hoặc có rủi ro dư lượng để phân bổ nguồn lực thay vì đầu tư dàn đều.

Hạ tầng cũng chỉ phát huy hiệu quả khi gắn với đầu ra, trong đó đề án đặt mục tiêu ít nhất 60% sản lượng được tiêu thụ qua hợp đồng. Theo ông Peter Johnson, công nghệ và cơ giới hóa cần được lựa chọn theo nhu cầu thực tế của từng vùng nguyên liệu, với hiệu quả thương mại là cơ sở quyết định đầu tư.

Điểm quan trọng là vùng nguyên liệu không thể chỉ được tổ chức để tạo ra sản lượng. Khi yêu cầu SPS, MRL và kiểm dịch thay đổi liên tục, vùng sản xuất còn phải có khả năng chứng minh chất lượng, truy xuất nguồn gốc và phản ứng nhanh với rủi ro. Đây là lý do số hóa, hạ tầng và liên kết đầu ra cần được triển khai cùng nhau thay vì tách thành những dự án riêng lẻ.

Việt Nam không thiếu nông sản, nhưng nguồn nguyên liệu đạt chuẩn vẫn thiếu khi kiểm soát đầu chuỗi chưa chặt. Tiêu chuẩn thay đổi từ thị trường, nhưng khả năng đáp ứng phải được chuẩn bị từ vùng nguyên liệu. Khi dữ liệu đủ rõ, bản đồ số không chỉ phục vụ truy xuất mà còn giúp nhận diện rủi ro và quản trị cả chuỗi.

                                                                                 Thế Vinh

Video Khi phụ nữ làm chủ - Đánh thức giá trị đặc sản miền Tây

Từ những con cá thát lát quen thuộc của miền Tây, HTX Kỳ Như (TP Cần Thơ) đã từng bước xây dựng chuỗi sản xuất, chế biến và nâng cao giá trị sản phẩm. Hành trình ấy ghi dấu vai trò ngày càng rõ nét của phụ nữ trong đổi mới sáng tạo và phát triển...

VnBusiness