Để sinh kế không dừng lại khi chính sách hỗ trợ kết thúc
Hàng trăm mô hình sản xuất với hàng chục nghìn hộ dân đã được hình thành từ nguồn lực các chương trình mục tiêu quốc gia giai đoạn 2021 - 2025. Khi một giai đoạn chính sách khép lại, yêu cầu đặt ra không chỉ là nhìn lại quy mô hỗ trợ, mà quan trọng hơn là đánh giá khả năng tự đứng vững và phát triển của những sinh kế đã được tạo dựng.
Đối với vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, hỗ trợ cây giống, con giống, tư liệu sản xuất hay xây dựng mô hình mới chỉ tạo ra những điều kiện ban đầu. Một sinh kế chỉ thực sự bền vững khi người dân có khả năng tổ chức sản xuất, kiểm soát chất lượng, giảm chi phí, tiếp cận thị trường và duy trì thu nhập ngay cả khi nguồn lực hỗ trợ trực tiếp không còn.
Từ thực tiễn triển khai các chương trình mục tiêu quốc gia, hợp tác xã đang cho thấy vai trò của một mắt xích quan trọng để chuyển nguồn lực hỗ trợ thành năng lực phát triển. Thông qua tổ chức lại sản xuất, hình thành vùng nguyên liệu, liên kết các hộ dân và kết nối với doanh nghiệp, thị trường, hợp tác xã có thể đưa một mô hình sinh kế từ phạm vi từng hộ gia đình từng bước tham gia vào chuỗi giá trị.
Ba tầng chính sách từ tạo sinh kế đến tổ chức lại sản xuất
Nhìn từ cách các chương trình mục tiêu quốc gia được triển khai tại vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, có thể thấy một quá trình hỗ trợ theo nhiều nấc. Tạo sinh kế là bước khởi đầu, tổ chức sản xuất là bước phát triển và khả năng đứng vững trên thị trường mới là đích đến.
Ở nấc đầu tiên, các chính sách hỗ trợ cây giống, con giống, tư liệu sản xuất, vốn và mô hình sản xuất cộng đồng giúp người dân có thêm điều kiện để tạo sinh kế. Nhưng nguồn lực ban đầu, dù cần thiết, chưa đủ để bảo đảm một sinh kế có thể tồn tại lâu dài.
Bước tiếp theo là đưa những hộ sản xuất riêng lẻ vào các mô hình liên kết theo chuỗi giá trị, nơi sản xuất được gắn với tiêu chuẩn, vùng nguyên liệu, chế biến và thị trường tiêu thụ. Đây là bước chuyển quan trọng từ hỗ trợ từng hộ sang tổ chức lại sản xuất, để nguồn lực của Nhà nước không chỉ tạo thêm tài sản trước mắt mà từng bước hình thành năng lực tạo thu nhập lâu dài.
Trong quá trình ấy, hợp tác xã có thể trở thành mắt xích nối hai giai đoạn. Thông qua tập hợp các hộ dân, tổ chức sản xuất, chuẩn hóa sản phẩm và kết nối doanh nghiệp, thị trường, hợp tác xã tạo điều kiện để những sinh kế được hình thành từ chính sách tiếp tục vận hành sau khi dự án kết thúc.
Một con bò giống có thể giúp một hộ có thêm tài sản, một mô hình sản xuất có thể giúp nhiều hộ cải thiện thu nhập. Nhưng để nguồn hỗ trợ chuyển thành năng lực phát triển lâu dài, người dân cần được tổ chức để cùng sản xuất, cùng nâng cao chất lượng và cùng tham gia thị trường. Khi đó, hợp tác xã không chỉ là một chủ thể thụ hưởng chính sách, mà trở thành một thiết chế kinh tế giúp giữ lại và nhân lên giá trị của chính sách sau đầu tư.
Sau hơn 5 năm triển khai, Dự án phát triển sản xuất nông, lâm nghiệp bền vững theo chuỗi giá trị, một trong những nội dung trọng tâm của Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển kinh tế xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2021 - 2030, đã hình thành 383 mô hình trồng trọt, chăn nuôi với 36.654 hộ tham gia. Dự án được triển khai qua 3 tiểu dự án có tính liên kết, bổ trợ lẫn nhau: phát triển kinh tế nông, lâm nghiệp gắn với bảo vệ rừng, tạo thêm nguồn thu nhập thường xuyên cho hàng trăm nghìn hộ dân sống gần rừng từ chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng; xây dựng vùng nguyên liệu tập trung, phát triển dược liệu và thu hút doanh nghiệp, lấy liên kết giữa doanh nghiệp, hợp tác xã và hộ dân thông qua hợp đồng sản xuất làm trọng tâm; đồng thời phát huy vai trò của quân đội trong hỗ trợ phát triển sản xuất, đồng hành cùng đồng bào tại các địa bàn biên giới.
Tuy nhiên, 383 mô hình mới phản ánh quy mô triển khai, chưa phải là thước đo đầy đủ về hiệu quả và tính bền vững của chính sách. Điều quan trọng hơn sau một giai đoạn đầu tư là có bao nhiêu mô hình đã thực sự đứng vững trên thị trường, duy trì được liên kết và tiếp tục tạo sinh kế khi nguồn hỗ trợ trực tiếp kết thúc. Thực tiễn triển khai cũng cho thấy những điểm nghẽn cần được nhìn nhận thẳng thắn. Liên kết ở nhiều nơi chưa bền vững, quy mô sản xuất còn nhỏ, chế biến sâu hạn chế, đầu ra vẫn phụ thuộc nhiều vào thương lái; trong khi hợp tác xã, mắt xích được kỳ vọng kết nối hộ dân với doanh nghiệp và thị trường, vẫn thiếu vốn, nhân lực và năng lực quản trị để đảm đương đầy đủ vai trò mà chính sách đặt ra.
Bức tranh chung của khu vực kinh tế tập thể càng cho thấy rõ vai trò của hợp tác xã trong tổ chức lại sản xuất và kết nối thị trường. Theo số liệu Bộ Tài chính công bố tại Diễn đàn Kinh tế hợp tác năm 2025, cả nước có 35.041 hợp tác xã, tăng 34,2% so với năm 2020; doanh thu bình quân đạt 4,562 tỷ đồng, lợi nhuận bình quân 421 triệu đồng mỗi hợp tác xã và gần 78,1% được xếp loại khá, tốt. Đáng chú ý hơn là hiệu quả của nhóm đã tham gia chuỗi giá trị. Theo Liên minh Hợp tác xã Việt Nam, hơn 4.000 hợp tác xã, tương đương gần 13% tổng số, đã tham gia chuỗi giá trị; qua đó doanh thu tăng 15 - 20%, lợi nhuận tăng 10 - 12%, trong khi chi phí giảm 5 - 10% so với hoạt động đơn lẻ. Những con số này cho thấy tổ chức lại sản xuất thông qua hợp tác xã không chỉ là yêu cầu về mô hình hay phương thức tổ chức, mà trước hết mang lại hiệu quả kinh tế cụ thể, tạo cơ sở để người sản xuất nâng cao giá trị và vị thế trong chuỗi.
Tuy nhiên, chính ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số, nơi nhu cầu tổ chức lại sản xuất càng cấp thiết, năng lực của khu vực hợp tác xã lại còn nhiều hạn chế. Theo thống kê của Liên minh Hợp tác xã Việt Nam năm 2024, hơn 70% hợp tác xã tại khu vực này vẫn có quy mô nhỏ, thiếu vốn, lao động và thiết bị sản xuất, năng lực chuẩn hóa sản phẩm theo yêu cầu thị trường còn hạn chế. Khoảng cách giữa tiềm năng của mô hình hợp tác xã với năng lực thực tế vì thế vẫn còn lớn, đặt ra yêu cầu không chỉ hỗ trợ người dân tạo sinh kế, mà phải đồng thời củng cố chính những tổ chức có khả năng đưa sinh kế ấy vào chuỗi giá trị và đứng vững trên thị trường.
Khi hợp tác xã trở thành điểm tựa để sinh kế đứng vững
Từ những con số vĩ mô, vai trò của hợp tác xã được thể hiện rõ hơn qua từng mô hình cụ thể. Tại xã Yên Châu, tỉnh Sơn La, Hợp tác xã Nông nghiệp Xuân Tiến nằm trên địa bàn vùng III và trực tiếp thụ hưởng Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển kinh tế xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi. Từ nguồn lực của Chương trình, hợp tác xã được hỗ trợ kho bảo quản, tập huấn kỹ thuật bán hàng trực tuyến và nâng cao năng lực quản trị. Đây không đơn thuần là hỗ trợ về cơ sở vật chất, mà từng bước bổ sung những điều kiện cần thiết để hợp tác xã tổ chức sản xuất và chủ động tiếp cận thị trường.
Ông Quàng Văn Xuân, Giám đốc hợp tác xã, cho biết: “Hiện nay, HTX quản lý 60 ha xoài tròn giống bản địa quý hiếm, nằm trong vùng chỉ dẫn địa lý và 5 ha táo đại. Toàn bộ diện tích cây ăn quả được canh tác theo hướng hữu cơ, an toàn, bền vững. Trung bình mỗi năm, HTX thu hoạch trên 300 tấn xoài tròn, bán với giá trung bình 25.000 đồng/kg, trừ chi phí thu lãi gần 500 triệu đồng”. Hợp tác xã hiện tạo việc làm thường xuyên cho 10 - 15 lao động người Thái, với thu nhập từ 5 - 6 triệu đồng mỗi tháng, một con số không lớn ở đô thị, nhưng đủ để giữ chân lao động ngay tại địa phương.
Cách đó không xa, tại xã Vân Hồ, nơi hơn 90% dân số là đồng bào dân tộc thiểu số, Hợp tác xã Vân Hồ Retreat với 8 thành viên là các hộ dân tộc Mông đang lựa chọn một hướng phát triển khác, kết hợp sản xuất rau hữu cơ với du lịch trải nghiệm và bán hàng trực tuyến. Mỗi năm, hợp tác xã cung cấp khoảng 100 tấn rau hữu cơ cho hệ thống siêu thị và cửa hàng nông sản sạch tại các tỉnh phía Bắc, từng bước đưa sản phẩm của đồng bào ra khỏi phạm vi thị trường địa phương.
Anh Vừ Pát Ly, Giám đốc hợp tác xã, chia sẻ: “Được thành lập từ năm 2025, HTX đã xây dựng đội ngũ nhân sự để bán hàng online, đều là người DTTS, độ tuổi từ 19-35. Từ khi được HTX hỗ trợ, các thành viên còn biết lên kịch bản quay và dựng video để giới thiệu sản phẩm của mình”.
Đây chính là điểm khác biệt so với mô hình hợp tác xã truyền thống. Hợp tác xã không chỉ gom sản phẩm để bán, mà trở thành nơi chuyển giao kỹ thuật, tổ chức vùng nguyên liệu, đào tạo kỹ năng số và kết nối thị trường ngay tại cộng đồng.
Trên phạm vi toàn tỉnh, Sơn La hiện có 995 hợp tác xã, trong đó hơn 800 hợp tác xã hoạt động tại các xã vùng đồng bào dân tộc thiểu số, khoảng 80% hoạt động trong lĩnh vực nông nghiệp. Theo ông Lê Huy Phong, Phó Chủ tịch Liên minh Hợp tác xã tỉnh, việc thành lập và hoạt động của các hợp tác xã vùng đồng bào dân tộc thiểu số đã góp phần khai thác tốt hơn tiềm năng, lợi thế từng địa phương. “Thu nhập thành viên tăng rõ rệt, doanh thu bình quân HTX đạt 2 tỷ đồng/năm, thu nhập lao động thường xuyên khoảng 72 triệu đồng/năm; tỷ lệ hộ nghèo DTTS giảm bình quân 3%/năm”.
Nếu Sơn La cho thấy khả năng tổ chức người dân và sản xuất ở cấp hợp tác xã, thì tại Khánh Hòa, liên kết đang được mở rộng lên quy mô liên hiệp hợp tác xã. Ông Lưu Văn Diễn, Chủ tịch Hội đồng quản trị Hợp tác xã Cơ giới - Xây dựng Vĩnh Thái, cho biết nhiều hợp tác xã trong vùng đã được kết nối để hình thành Liên hiệp Hợp tác xã Việt Nam - VN COOP khu vực Khánh Hòa, hướng tới xây dựng vùng nguyên liệu dược liệu tập trung gắn với doanh nghiệp chế biến. “Liên hiệp HTX sẽ giúp các HTX thành viên và bà con dân tộc thiểu số có thu nhập thường xuyên, ổn định. Qua đó tạo động lực để mở rộng vùng nguyên liệu, phát triển sản xuất và thoát nghèo bền vững”.
Xu hướng liên kết cũng đang được mở rộng tại Gia Lai, địa bàn có đông đồng bào Jrai và Bahnar sinh sống. Với 172 hợp tác xã nông nghiệp liên kết với doanh nghiệp tiêu thụ sản phẩm và 79 hợp tác xã ứng dụng công nghệ cao trong sản xuất, kinh tế hợp tác đã từng bước vượt khỏi phạm vi của những mô hình riêng lẻ để trở thành một phương thức tổ chức sản xuất có quy mô.
Sự chuyển hướng trong chính sách hỗ trợ cũng đang diễn ra theo logic đó. Tại Quảng Ngãi, địa phương có hơn 540.000 người dân tộc thiểu số, chiếm khoảng 25,5% dân số toàn tỉnh sau hợp nhất, từ năm 2022 đến nay đã triển khai 26 dự án hỗ trợ phát triển sản xuất theo chuỗi giá trị và 399 dự án phát triển cộng đồng. Cùng với các nguồn lực đầu tư khác, tỷ lệ hộ nghèo vùng đồng bào dân tộc thiểu số của tỉnh giảm bình quân 4,64% mỗi năm.
Định hướng của tỉnh trong giai đoạn tới là chuyển mạnh từ hỗ trợ trực tiếp sang hỗ trợ về cách làm, kỹ năng quản lý và kết nối thị trường, khuyến khích vai trò tự chủ của hợp tác xã và các nhóm nông dân. Đó là bước chuyển cần thiết để đồng bào dân tộc thiểu số không chỉ là đối tượng thụ hưởng chính sách mà từng bước trở thành chủ thể tổ chức sản xuất, tham gia thị trường và quyết định sự phát triển sinh kế của chính mình.
Từ hỗ trợ sinh kế đến chuỗi giá trị còn những nút thắt phải gỡ
Nhưng sẽ là phiến diện nếu chỉ nhìn vào những mô hình đã thành công mà bỏ qua những điểm nghẽn từng cản trở chính sách đi vào thực tiễn. Một trong số đó xuất phát ngay từ điều kiện tham gia chuỗi liên kết. Trước khi được điều chỉnh, Quyết định số 1719/QĐ-TTg ngày 14/10/2021 yêu cầu doanh nghiệp hoặc hợp tác xã tham gia chuỗi phải sử dụng từ 70% tổng số lao động trở lên là người dân tộc thiểu số. Tại nhiều địa phương, điều kiện này trở thành rào cản lớn bởi thực tế về nguồn lao động và khả năng tổ chức sản xuất không dễ đáp ứng. Đến khi Quyết định số 920/QĐ-TTg ngày 14/5/2025 bãi bỏ điều kiện trên, một nút thắt về cơ chế mới được tháo gỡ.
Tuy nhiên, tháo gỡ về cơ chế chưa đồng nghĩa với những trở ngại trong thực tiễn đã được giải quyết. Tại vùng cao Tương Dương, tỉnh Nghệ An, đến năm 2025 vẫn chưa triển khai được mô hình liên kết chuỗi. Ông Nguyễn Văn Hòa, khi đó là Trưởng phòng Nông nghiệp và Môi trường huyện, nay là Chủ tịch UBND xã Lượng Minh, lý giải: “Người dân thiếu tư liệu sản xuất; nhiều bản chỉ còn người già và trẻ nhỏ nên khó tổ chức sản xuất quy mô. Các doanh nghiệp đã khảo sát nhưng đều ngại ký kết vì rủi ro quá lớn”. Tại xã Hữu Kiệm, khi chính quyền chủ động tìm doanh nghiệp liên kết trồng keo cho người dân, trở ngại tiếp tục nằm ở bài toán thị trường. Doanh nghiệp có thể thu mua nhưng không sẵn sàng đầu tư bởi địa bàn xa, giao thông khó khăn và chi phí vận chuyển lớn.
Vốn tiếp tục là một nút thắt lớn, thậm chí dai dẳng hơn cả những vướng mắc về lao động và cơ chế tham gia liên kết. Ông Phạm Văn Tía, Giám đốc Hợp tác xã Cửu An 1, tỉnh Gia Lai, chỉ ra tình thế mà không ít hợp tác xã đang gặp phải: “HTX bị kẹt cả vay thế chấp lẫn vay tín chấp. Tài sản HTX là của xã viên nên không thế chấp được. Không có vốn thì rất khó mở rộng sản xuất”. Khi khả năng tiếp cận tín dụng bị hạn chế, hợp tác xã khó đầu tư mở rộng vùng nguyên liệu, đổi mới thiết bị hay nâng quy mô sản xuất, dù đã có nhu cầu và cơ hội thị trường.
Nhu cầu về nguồn vốn trung và dài hạn càng rõ đối với những mô hình đòi hỏi đầu tư công nghệ lớn. Ông Nguyễn Trọng Hạnh, Giám đốc Hợp tác xã Nông nghiệp công nghệ cao Nam Miền Trung, tỉnh Khánh Hòa, nơi mô hình trồng dưa lưới trong nhà kính rộng 2 ha đang tạo việc làm cho 10 - 15 lao động người Raglay mỗi vụ, cho biết: “HTX công nghệ cao rất cần vốn trung dài hạn để mở rộng vùng sản xuất. Nếu có quỹ bảo lãnh hoặc tín dụng ưu đãi, chúng tôi có thể nâng sản lượng lên gấp đôi, tạo thêm nhiều việc làm cho đồng bào Raglay”.
Nhưng vốn cũng chỉ phát huy hiệu quả khi đi cùng thị trường. Đại diện Hợp tác xã Cửa Đạt, tỉnh Thanh Hóa, nơi sản phẩm cá mương sấy đã đạt OCOP 3 sao, lại nhìn thấy điểm nghẽn ở đầu ra: “Sản phẩm OCOP 3 sao nhưng chủ yếu bán qua hội chợ. Nếu có chương trình kết nối với siêu thị hoặc thương mại điện tử, chúng tôi mạnh dạn đầu tư nâng cấp bao bì và tiêu chuẩn”.
Những tiếng nói từ cơ sở không phủ nhận những kết quả tích cực của khu vực kinh tế hợp tác, mà cho thấy đầy đủ hơn những điều kiện cần thiết để các kết quả ấy có thể được duy trì và nhân rộng. Thực tiễn cho thấy, hợp tác xã có thể tạo ra hiệu quả rõ rệt khi được tổ chức đúng bản chất, gắn sản xuất với nhu cầu thị trường và lợi ích của thành viên. Nhưng để làm được điều đó, chỉ nỗ lực của người đứng đầu hay các thành viên hợp tác xã là chưa đủ. Vốn, hạ tầng, công nghệ và thị trường là những điều kiện có tính nền tảng, quyết định khả năng một hợp tác xã có thể mở rộng sản xuất, nâng cao chất lượng sản phẩm và tham gia bền vững vào chuỗi giá trị.
Ông Nguyễn Đình Tuấn, Chủ tịch Liên minh Hợp tác xã tỉnh Thanh Hóa, nhận định nhiều hợp tác xã hiện nay đang từng bước hoạt động đúng bản chất, tập trung hỗ trợ thành viên thông qua cung ứng dịch vụ và tạo việc làm. Tuy nhiên, để phát huy hiệu quả cao hơn, các hợp tác xã cần tiếp tục chuyển mạnh từ hoạt động còn mang tính hình thức sang thực chất, lấy nhu cầu của thành viên và tín hiệu thị trường làm căn cứ tổ chức sản xuất, đồng thời nâng cao năng lực liên kết để tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị.
Hành trình từ một hộ nghèo được hỗ trợ cây giống, con giống đến khi trở thành một mắt xích trong chuỗi giá trị, vì thế, không chỉ là câu chuyện về gia tăng thu nhập. Sâu xa hơn, đó là quá trình thay đổi vị thế của người dân trong phát triển kinh tế xã hội, từ đối tượng thụ hưởng chính sách từng bước trở thành chủ thể tổ chức sản xuất, tham gia thị trường và tạo dựng sinh kế bằng chính năng lực của mình.
Thực tiễn từ Sơn La, Khánh Hòa, Gia Lai, Quảng Ngãi hay Nghệ An cho thấy hợp tác xã có thể trở thành bệ đỡ cho quá trình chuyển đổi ấy, khi kết nối những hộ sản xuất riêng lẻ, tổ chức lại sản xuất và đưa sản phẩm vào chuỗi giá trị. Nhưng để vai trò đó được phát huy, những điểm nghẽn về vốn, thị trường, hạ tầng và năng lực quản trị cần được nhận diện đầy đủ và tháo gỡ bằng những chính sách cụ thể, sát với thực tiễn. Bởi sau cùng, giá trị của chính sách không chỉ được đo bằng số mô hình đã hình thành hay số hộ đã được hỗ trợ, mà bằng số sinh kế có thể tiếp tục đứng vững khi nguồn hỗ trợ kết thúc và số người dân thực sự có khả năng làm chủ con đường phát triển của mình.
Linh Đan
Cận cảnh iPhone 18 Pro Max vừa ra mắt: Pin 45 giờ, camera xịn xò và... 'giá chát'
Apple vừa chính thức ra mắt iPhone 18 Pro và iPhone 18 Pro Max tại sự kiện “Surprise and shine” diễn ra lúc 0h ngày 10/9 theo giờ Việt Nam, với loạt nâng cấp đáng chú ý về hiệu năng, pin và camera.
Đừng bỏ lỡ
Khi phụ nữ làm chủ những mùa quả ngọt
Từ những vườn cam, HTX 3T Nông sản Cao Phong đang từng bước đổi mới sản xuất, phát triển sản phẩm và xây dựng thương hiệu. Sự ghi nhận tại Cuộc thi “HTX đổi mới sáng tạo” năm 2026 không chỉ là dấu mốc của một mô hình kinh tế hợp tác, mà còn cho thấy...


























