VnBusiness

VnBusiness

VnBusiness

Cooperative

Công nghệ mới mở lối cho HTX trong sản xuất nông nghiệp thông minh

Công nghệ mới mở lối cho HTX trong sản xuất nông nghiệp thông minh

Trong bối cảnh nền nông nghiệp hiện đại đang đứng trước áp lực lớn về tối ưu hóa chi phí đầu vào, thích ứng với biến đổi khí hậu và đáp ứng các tiêu chuẩn xuất khẩu ngày càng khắt khe, việc chuyển đổi số và áp dụng công nghệ thông minh không còn là lựa chọn mang tính hình thức, mà đã trở thành yêu cầu sống còn đối với khu vực kinh tế tập thể.

Dù dư địa phát triển rất lớn, song đường đua chuyển đổi số của các hợp tác xã (HTX) vẫn đang gặp nhiều rào cản về vốn, năng lực quản trị và hạ tầng kỹ thuật. Để làm rõ những giải pháp căn cơ cũng như những bài học thực tiễn giúp HTX tự tin ứng dụng công nghệ hiệu quả, VnBusiness đã có cuộc trao đổi với TS. Trần Minh Hải, Phó Hiệu trưởng Trường Chính sách công và Phát triển nông thôn (Bộ Nông nghiệp và Môi trường).

Thưa ông, ông đánh giá như thế nào về vai trò cũng như xu hướng ứng dụng công nghệ thông minh trong khu vực kinh tế tập thể, HTX nông nghiệp hiện nay?

-Có thể khẳng định việc đưa công nghệ thông minh và công nghệ số vào khu vực HTX là một trong những nhiệm vụ mang tính chiến lược và đặc biệt quan trọng đối với sự phát triển của kinh tế tập thể hiện nay.

Thực tiễn hoạt động sản xuất nông nghiệp thời gian qua đã chứng minh rất rõ nét rằng, những HTX nào chủ động, mạnh dạn chuyển đổi, biết đưa các giải pháp công nghệ hiện đại vào trong quy trình sản xuất cũng như công tác quản trị điều hành thì đều ghi nhận mức tăng trưởng rõ rệt và mang lại hiệu quả kinh tế rất lớn cho các thành viên.

Một ví dụ rất điển hình là HTX Tân Bình tại tỉnh Đồng Tháp. Đây là đơn vị tiên phong trong việc ứng dụng đồng bộ nhiều giải pháp công nghệ hiện đại. HTX đã mạnh dạn chuyển đổi toàn bộ hệ thống trạm bơm điện truyền thống sang mô hình trạm bơm thông minh. Tích hợp trên hệ thống là các con chip vi xử lý có khả năng tự động tính toán, đo đạc mực nước thủy triều lên xuống và xác định chính xác các khung giờ điện giá thấp (giờ thấp điểm) để tự động vận hành máy bơm. Giải pháp này đã giúp HTX giảm tới 30% chi phí tiền điện phục vụ bơm tưới, đồng thời giải phóng hoàn toàn lực lượng công nhân không còn phải thức đêm trực ca. Ngoài ra, HTX Tân Bình còn ứng dụng máy bay không người lái (drone) để định vị tọa độ đồng ruộng, tích hợp thuật toán điều khiển máy cày tự động và đầu tư hệ thống máy móc phân loại, sàng lọc chất lượng lúa giống rất hiện đại.

TS. Trần Minh Hải, Phó Hiệu trưởng Trường Chính sách công và Phát triển nông thôn (Bộ Nông nghiệp và Môi trường).
TS. Trần Minh Hải, Phó Hiệu trưởng Trường Chính sách công và Phát triển nông thôn (Bộ Nông nghiệp và Môi trường).

Một mô hình thành công khác là HTX Cây Trôm tại Tây Ninh. HTX này đã ứng dụng công nghệ số rất hiệu quả thông qua việc triển khai số hóa 100% nhật ký sản xuất điện tử cho toàn thể các hộ thành viên. Nhờ nguồn dữ liệu tập trung này, Ban điều hành HTX nắm bắt chính xác nhu cầu về chủng loại lúa giống, khối lượng phân bón vật tư cần cung ứng, đồng thời dự báo chính xác thời điểm thu hoạch của từng cánh đồng. Từ đó, HTX chủ động đàm phán, kết nối với các doanh nghiệp thu mua và sơ chế, giúp ổn định hoàn toàn đầu ra nông sản cho bà con với giá bán tốt nhất.

Hay như tại tỉnh Cà Mau, HTX Ba Đình là minh chứng sinh động cho việc ứng dụng công nghệ vào mô hình sản xuất đặc thù "dưới nuôi tôm, trên trồng lúa". Để nâng cao chuỗi giá trị, HTX đã ứng dụng công nghệ thông minh vào quy trình nuôi tôm 2 giai đoạn, giúp kiểm soát tốt dịch bệnh và giảm thiểu tối đa rủi ro cho người nuôi. Đồng thời, HTX áp dụng các giải pháp vi sinh tiên tiến để xử lý môi trường nước và đầu tư công nghệ sơ chế, chế biến sâu các sản phẩm từ tôm và lúa gạo.

Những thành công thực tế từ các HTX nêu trên đã khẳng định một bài học kinh nghiệm quý giá: Chỉ cần HTX lựa chọn đúng công nghệ, đi đúng từ nhu cầu thực tiễn và năng lực của mình, công nghệ mới sẽ trở thành chiếc chìa khóa, tạo hướng phát triển bứt phá và bền vững cho nông nghiệp thông minh.

Hiện, chúng ta đang thấy một xu hướng rất tích cực là ngày càng có nhiều HTX chủ động tìm tòi, học tập và làm theo các mô hình ứng dụng công nghệ thông minh hiệu quả. Sự chuyển biến này không chỉ dừng lại ở các HTX quy mô lớn mà đang lan tỏa rộng rãi ra nhiều vùng miền. Công nghệ không đơn thuần là công cụ kỹ thuật, mà chính là giải pháp cốt lõi giúp các HTX giải bài toán tối ưu hóa chi phí sản xuất, minh bạch hóa nguồn gốc sản phẩm, nâng cao giá trị gia tăng và củng cố năng lực cạnh tranh bền vững của nông sản Việt Nam trên thị trường trong nước lẫn quốc tế.

Việc ứng dụng công nghệ đòi hỏi nhiều nguồn lực. Vậy, theo ông, các HTX cần tiếp cận công nghệ thông minh như thế nào cho phù hợp với năng lực thực tế?

-Khi chúng ta thảo luận về công nghệ thông minh hay công nghệ số trong nông nghiệp, nguyên tắc đầu tiên là phải căn cứ vào trình độ phát triển và thực trạng cụ thể của từng HTX. Chuyển đổi số không phải là một mô hình đồng nhất áp dụng chung cho tất cả, mà mỗi HTX phải bắt đầu từ chính vị trí thực tế của mình. Ban quản trị HTX cần nhìn nhận rõ năng lực của Hội đồng quản trị, Ban giám đốc, trình độ tiếp thu của thành viên, cũng như quy mô và số lượng dịch vụ mà HTX đang cung ứng cho cộng đồng ra sao. Việc điều hành, quản lý sản xuất kinh doanh phải nương theo đúng nhu cầu nội tại đó.

Phương châm đúng đắn nhất đối với các HTX là đi từng bước, từ thấp đến cao. Ban quản trị HTX tuyệt đối không nên chạy theo phong trào hay nóng vội bỏ ra nguồn kinh phí lớn để mua sắm những phần mềm, công nghệ quá cao siêu, phức tạp mà vượt quá năng lực vận hành của đơn vị. Trong toàn bộ quá trình chuyển đổi số, hai yếu tố quan trọng nhất và đóng vai trò quyết định chính là dữ liệu và con người. HTX bắt buộc phải có dữ liệu quản trị chuẩn xác và đội ngũ con người đủ năng lực điều khiển, ứng dụng thì công nghệ mới có thể phát huy tối đa hiệu quả.

Trong thực tế, chuyển đổi số hoàn toàn có thể bắt đầu ngay từ những bước đi rất căn bản và thiết thực. Trong khâu quản trị hành chính hàng ngày, HTX có thể chuyển dần việc quản lý bằng sổ sách giấy tờ truyền thống sang ứng dụng các phần mềm ghi chép dữ liệu, quản lý thông tin khách hàng, xuất hóa đơn điện tử, hoặc phân loại mức độ sử dụng dịch vụ của từng thành viên.

Trong khâu canh tác trên đồng ruộng, thay vì nông dân ghi chép tay vào sổ nhật ký vốn dễ thất lạc và thiếu chính xác, HTX có thể chuyển sang sử dụng nhật ký sản xuất điện tử trên điện thoại thông minh. Đối với khâu cơ giới hóa, nếu như trước đây, công đoạn cày hay trang đất (làm phẳng mặt ruộng) hoàn toàn phụ thuộc vào cách làm thủ công, thì hiện nay HTX có thể trang bị hệ thống trang bằng laser để mặt ruộng bằng phẳng tuyệt đối.

Tương tự, việc ứng dụng máy bay không người lái (drone) kết hợp cùng hệ thống định vị và thuật toán thông minh sẽ hỗ trợ máy cày tự động tính toán, vận hành theo tuyến đường tối ưu nhất trên ruộng. Giải pháp này không chỉ giải phóng sức lao động, tiết kiệm thời gian mà còn giảm thiểu chi phí nhiên liệu ở mức tối đa. Từ những dữ liệu nền tảng đã thu thập được, HTX mới tiếp tục lựa chọn các công nghệ tiếp theo cho phù hợp với định hướng phát triển của mình.

Để tạo động lực mạnh mẽ hơn, giúp các HTX mở rộng quy mô và tăng tỷ lệ ứng dụng công nghệ số vào sản xuất kinh doanh, đâu là những giải pháp then chốt và các nguồn lực hỗ trợ mà HTX cần tranh thủ, thưa ông?

-Để thúc đẩy quá trình ứng dụng công nghệ thông minh trong khu vực kinh tế tập thể diễn ra hiệu quả và thực chất, tôi cho rằng các HTX cần tập trung thực hiện đồng bộ 3 nhóm giải pháp căn cơ.

Thứ nhất, HTX phải chủ động mở rộng quy mô thành viên. Khi quy mô thành viên tăng lên, nhu cầu sử dụng các dịch vụ nông nghiệp chất lượng cao từ HTX cũng sẽ gia tăng tương ứng. Đây chính là động lực kinh tế trực tiếp thúc đẩy HTX phải đầu tư, mua sắm các công nghệ thông minh để nâng cao năng lực phục vụ thành viên. Việc ứng dụng công nghệ lúc này không chỉ mang lại hiệu quả kinh tế rõ rệt mà còn tạo ra sự khác biệt lớn về mặt lợi ích giữa người tham gia HTX và người sản xuất nhỏ lẻ bên ngoài, từ đó gia tăng sức hút của mô hình HTX.

Thứ hai, HTX cần tăng cường liên kết chặt chẽ với các doanh nghiệp tiêu thụ. Dựa trên các tiêu chuẩn, tiêu chí và yêu cầu chất lượng nông sản đầu ra từ phía doanh nghiệp, hai bên có thể thiết lập cơ chế hợp tác đầu tư. Chính doanh nghiệp sẽ là chủ thể cùng đồng hành, hỗ trợ vốn, chia sẻ máy móc thiết bị, hoặc chuyển giao công nghệ sơ chế, chế biến nông sản cho HTX. Khi bài toán công nghệ được giải quyết thông qua hợp tác chuỗi giá trị gắn liền với đầu ra tiêu thụ, việc đầu tư công nghệ sẽ tránh được tình trạng lãng phí, mang lại hiệu quả tức thì cho nông dân, đồng thời tạo ra áp lực tích cực buộc các thành viên HTX phải tuân thủ nghiêm ngặt quy trình công nghệ đã đề ra.

Thứ ba, HTX cần nhạy bén trong việc tiếp cận và tận dụng các chính sách hỗ trợ từ phía Nhà nước. Ban quản trị HTX nên chủ động nghiên cứu các nghị quyết, cơ chính sách hỗ trợ phát triển kinh tế tập thể do Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân cấp tỉnh-thành ban hành, bởi quyền hạn và nguồn lực tài chính của các địa phương hiện nay là rất lớn.

Điển hình như Nghị định số 112/2024/NĐ-CP của Chính phủ về chính sách hỗ trợ đất trồng lúa, từng địa phương đều có những quy định cụ thể về việc phân bổ nguồn kinh phí hỗ trợ HTX ứng dụng khoa học công nghệ vào sản xuất. Bên cạnh đó, các chương trình khuyến công do Sở Công Thương quản lý cũng luôn có các hạng mục hỗ trợ máy móc, thiết bị hiện đại cho khâu sơ chế, chế biến. HTX hoàn toàn có thể chủ động tìm hiểu, kết nối thông qua các kênh chính thức như Liên minh HTX tỉnh-thành, Chi cục Phát triển nông thôn để lựa chọn những chương trình hỗ trợ phù hợp nhất với điều kiện của đơn vị mình.

Xin trân trọng cảm ơn ông!

Huyền Trang (thực hiện)

VnBusiness