VnBusiness

VnBusiness

VnBusiness

Tiêu điểm

FDI điện tử tăng tốc, doanh nghiệp Việt mắc kẹt ở bài toán nhân lực

FDI điện tử tăng tốc, doanh nghiệp Việt mắc kẹt ở bài toán nhân lực

Dòng vốn FDI điện tử tăng mạnh đang mở rộng cơ hội cho Việt Nam, nhưng cũng khiến cuộc cạnh tranh lao động thêm gay gắt. Với doanh nghiệp nội địa, thiếu người chỉ là phần nổi; phía sau còn là bài toán năng suất, tự động hóa và khả năng đáp ứng những đơn hàng biến động nhanh trong chuỗi cung ứng toàn cầu.

Lao động và việc làm là một trong những nhóm kiến nghị cấp thiết được ông Trần Đức Tùng, Phó Tổng Giám đốc CTCP Công nghệ Thế hệ mới Hanel PT, nêu tại buổi làm việc vừa qua của Phó Thủ tướng Thường trực Chính phủ Phạm Gia Túc với Hiệp hội Doanh nghiệp điện tử Việt Nam (VEIA) và một số doanh nghiệp xuất nhập khẩu lớn trong ngành điện tử, bán dẫn. 

Kẹt giữa cơn khát lao động và “trần” giờ làm thêm

Trao đổi với  VnBusiness, ông Tùng cho hay, tình trạng thiếu lao động nghiêm trọng đang trở thành một trong những khó khăn lớn đối với doanh nghiệp ngành điện tử trong nước.

Thời gian qua, cùng với các đại công trường xây dựng, các dự án FDI mới đang hút một lượng lớn lao động, đồng thời đẩy mặt bằng tiền lương lên cao. Khó khăn tuyển dụng, doanh nghiệp không chỉ phải trả lương cao hơn để tuyển được người mà còn phải tăng nhiều chi phí khác để giữ chân họ.

“Chi phí lương, chi phí tuyển dụng, thưởng tuyển dụng cao tăng chóng mặt, cạnh tranh nhân sự rất khốc liệt. Tại Bắc Ninh, thưởng tuyển dụng lên tới 15 - 20 triệu/lao động cho một kỳ tuyển dụng chưa tới 6 tháng”, ông Tùng cho biết.

Ông Trần Đức Tùng, Phó Tổng Giám đốc Công ty Cổ phần Công nghệ Thế hệ mới Hanel PT kiến nghị các giải pháp đưa chính sách vào thực tiễn doanh nghiệp, nhà máy và dự án sản xuất.
Ông Trần Đức Tùng, Phó Tổng Giám đốc Công ty Cổ phần Công nghệ Thế hệ mới Hanel PT  kiến nghị các giải pháp đưa chính sách vào thực tiễn doanh nghiệp, nhà máy và dự án sản xuất.

Theo đại diện doanh nghiệp, ngành điện tử nằm trong chuỗi cung ứng toàn cầu, kế hoạch sản xuất và dự báo đơn hàng (forecast) có thể thay đổi theo tháng, thậm chí theo tuần. Khi khách hàng bất ngờ yêu cầu tăng sản lượng, doanh nghiệp phải nhanh chóng huy động thêm nhân lực, tổ chức sản xuất và giao hàng đúng thời hạn. Do đó, ngay cả khi doanh nghiệp đã có lực lượng lao động cơ bản, những đợt tăng đơn hàng đột biến vẫn có thể khiến công suất thiếu hụt.

“Doanh nghiệp Việt Nam nếu không đáp ứng được thì đơn hàng có thể chuyển sang nhà máy khác”, ông Tùng nói.

Giai đoạn sản xuất cao điểm của ngành điện tử thường rơi vào khoảng tháng 7 đến tháng 12 hàng năm, trong đó tháng 8 đến tháng 10 là thời gian cao điểm nhất. Đây cũng là thời điểm doanh nghiệp phải đối mặt với yêu cầu tăng sản lượng nhanh từ khách hàng. Trong điều kiện không thể tuyển ngay một lượng lớn lao động mới, làm thêm giờ trở thành một trong những công cụ để doanh nghiệp bù đắp công suất. 

Tuy nhiên, quy định về thời gian làm thêm hiện nay có mức trần khá thấp và thiếu linh hoạt (không quá 200 giờ trong một năm, trừ các trường hợp đặc biệt được cho phép tối đa 300 giờ/năm) khiến doanh nghiệp gặp khó.

“Doanh nghiệp tuân thủ quy định thì ảnh hưởng tiến độ giao, nhưng không tuân thủ thì vi phạm quy định”, ông Tùng nói. Đại diện doanh nghiệp đồng thời nhấn mạnh, vấn đề không nằm ở tiền phạt mà là việc uy tín của doanh nghiệp trong chuỗi toàn cầu bị ảnh hưởng. “Nên các bên đang phải tăng chi phí lương, tuyển dụng, hạ tầng... để đáp ứng”, ông nói.

Thời gian qua, Việt Nam từng bước khẳng định vị thế là điểm đến đầu tư hấp dẫn của dòng vốn FDI. Đặc biệt, nhu cầu toàn cầu gia tăng đối với AI, trung tâm dữ liệu, máy chủ và các thiết bị điện tử đã kéo theo dòng vốn đầu tư mới vào Việt Nam. Không chỉ gia tăng về vốn, các tập đoàn quốc tế ngày càng quan tâm tới những lĩnh vực có hàm lượng công nghệ và giá trị gia tăng cao như bán dẫn, linh kiện điện tử, kỹ thuật chính xác, thiết bị công nghệ cao và sản xuất thông minh.  Đây không chỉ là cơ hội để Việt Nam đón thêm vốn đầu tư, mà còn là thời điểm để doanh nghiệp trong nước lớn mạnh cùng sự phát triển của ngành. 

6 tháng đầu năm 2026, lĩnh vực máy tính, điện tử và sản phẩm quang học thu hút hơn 7,03 tỷ USD vốn FDI đăng ký mới, tương đương gần 66% tổng vốn FDI đăng ký mới trong lĩnh vực sản xuất Việt Nam. Số dự án mới giảm từ mức 99 của năm ngoái xuống 65 nhưng tổng vốn đầu tư tăng tới 614%, từ khoảng 984,5 triệu USD lên hơn 7 tỷ USD.

3 dự án sản xuất mới có vốn lớn nhất có tổng vốn lên tới 6,36 tỷ USD, gồm các dự án của Samsung Semiconductor Asia Holdings, Samsung Electro-Mechanics Vietnam và LG Innotek Việt Nam. 

Trong chuyến thăm chính thức Hàn Quốc của Chủ tịch Quốc hội Trần Thanh Mẫn vừa kết thúc, lãnh đạo Samsung và LG cũng tiếp tục khẳng định định hướng mở rộng hoạt động đầu tư, sản xuất tại Việt Nam, cho thấy sức hấp dẫn của Việt Nam trong chuỗi sản xuất điện tử toàn cầu vẫn đang được củng cố.

Tuy nhiên, số liệu thời gian qua cho thấy, FDI càng tăng, điểm nghẽn của khu vực nội địa càng rõ. Câu chuyện lao động và làm thêm chỉ là một phần trong những điểm nghẽn.

Tại cuộc họp ngày 8/9, các điểm nghẽn đã được Chính phủ, doanh nghiệp chỉ rõ: công nghiệp hỗ trợ phát triển chưa tương xứng; phụ thuộc đáng kể vào linh kiện, vật liệu, thiết bị và công nghệ nhập khẩu; liên kết giữa doanh nghiệp Việt và khu vực FDI chưa sâu; nguồn nhân lực chưa đáp ứng yêu cầu...

Ghi nhận giá trị nhập khẩu linh kiện, nguyên vật liệu, thiết bị đầu vào lớn hơn nhiều so với giá trị xuất khẩu cùng kỳ; việc xuất hiện nhập siêu cục bộ ở nhóm máy vi tính, sản phẩm điện tử và linh kiện và tại một số doanh nghiệp đã cho thấy, bài toán cấp thiết của ngành hiện nay là cải thiện "sức khoẻ", nâng cao năng lực" doanh nghiệp nội địa.

Đề xuất cơ chế linh hoạt cho doanh nghiệp và người lao động

Theo hướng đó, bài toán nhân lực mà doanh nghiệp đặt ra cần được nhìn nhận không chỉ ở góc độ “thiếu người”, mà là năng lực tổ chức và sử dụng nguồn nhân lực để  ngành điện tử trong nước có thể nắm bắt cơ hội tăng trưởng.

Doanh nghiệp kiến nghị có thể giữ tiêu chuẩn hiện tại nhưng có các cơ chế linh hoạt hơn cho doanh nghiệp ở những ngành đặc thù, trong những mùa vụ đặc thù. Ảnh: Hanel PT
Doanh nghiệp kiến nghị có thể giữ tiêu chuẩn hiện tại nhưng có các cơ chế linh hoạt hơn cho doanh nghiệp ở những ngành đặc thù, trong những mùa vụ đặc thù. Ảnh: Hanel PT

Từ thực tế hoạt động doanh nghiệp, Phó Tổng Giám đốc Hanel PT kiến nghị nghiên cứu cơ chế phân bổ thời gian làm thêm linh hoạt hơn theo quý và theo năm, đặc biệt đối với doanh nghiệp điện tử, xuất khẩu và tham gia chuỗi cung ứng toàn cầu. 

Theo ông, kinh nghiệm của Nhật Bản có thể là một tham khảo về cách thiết kế cơ chế: Nguyên tắc 45 giờ/tháng và 360 giờ/năm, nhưng trong trường hợp đặc biệt có thể áp dụng cơ chế linh hoạt tới 720 giờ/năm, đồng thời đặt giới hạn chặt theo tháng và bình quân nhiều tháng để bảo vệ người lao động.

“Chúng tôi không đề nghị Việt Nam sao chép mức 720 giờ, mà đề nghị tham khảo cách thiết kế cơ chế để vừa bảo vệ người lao động vừa giúp doanh nghiệp đáp ứng các giai đoạn cao điểm”, ông Tùng nhấn mạnh.

Theo ông, tại các khu công nghiệp, một bộ phận người lao động cũng có nhu cầu làm thêm để nâng thu nhập. Khi tuyển dụng, một trong những câu hỏi phổ biến của người lao động là doanh nghiệp có làm thêm hay không và tổng thu nhập một tháng có thể đạt bao nhiêu.

Trong giai đoạn chuyển tiếp, 4 nguyên tắc được ông Tùng nhấn mạnh là: tự nguyện, trả lương đầy đủ, nghỉ ngơi đầy đủ và bảo đảm an toàn, sức khỏe cho người lao động.

Đồng tình, Thứ trưởng Bộ Nội vụ Nguyễn Văn Hồi cũng cho rằng cần nghiên cứu điều chỉnh quy định giờ làm thêm để đáp ứng nhu cầu nhân lực của doanh nghiệp, phù hợp thực tiễn sản xuất và xu thế tại các nước phát triển. Ông cho rằng có thể nới thời gian làm thêm khoảng 20 giờ/tuần, tương đương tối đa 960 giờ/năm.

Tất nhiên, điều chỉnh quy định về giờ làm thêm chưa thể là lời giải căn cơ cho bài toán nhân lực. Trong ngắn hạn, một cơ chế sử dụng lao động linh hoạt hơn có thể giúp doanh nghiệp ứng phó với những mùa cao điểm và biến động đơn hàng. Nhưng về dài hạn, sức cạnh tranh phải đến từ năng suất, công nghệ và khả năng tạo ra giá trị gia tăng cao hơn. Đây cũng là bài toán lớn hơn đặt ra cho ngành điện tử Việt Nam khi làn sóng FDI tiếp tục tăng tốc.

“Mục tiêu vẫn phải là tăng năng suất, tăng tự động hóa, tăng giá trị sản phẩm và tăng tiền lương, để người lao động từng bước không phải làm thêm nhiều mà vẫn có thu nhập tốt", theo đại diện Hanel PT.

VnBusiness

 Bộ Công Thương đề xuất ưu tiên hỗ trợ doanh nghiệp trong nước nghiên cứu, làm chủ công nghệ lõi, công nghệ nền trong các lĩnh vực bán dẫn, vi mạch, vật liệu điện tử và tự động hóa; khuyến khích đầu tư R&D, sản xuất linh kiện, vật liệu điện tử trong nước.

Ông Nguyễn Sinh Nhật Tân Thứ trưởng Bộ Công Thương
Ông Nguyễn Sinh Nhật Tân
VnBusiness

Trong số khoảng 1,2 triệu học sinh tốt nghiệp trung học phổ thông năm 2026, có tới 852 nghìn học sinh đăng ký tuyển sinh đại học. Một số ngành nghề như hành chính, quản trị và một số lĩnh vực khác đang dư thừa nhân lực, trong khi thị trường lại thiếu lao động chuyên môn kỹ thuật, lao động chất lượng cao trong một số lĩnh vực, trong đó có điện tử, viễn thông.

Ông Nguyễn Văn Hồi   Thứ trưởng Bộ Nội vụ 
Ông Nguyễn Văn Hồi
VnBusiness

 Mục tiêu các doanh nghiệp điện tử hướng tới không chỉ là xuất khẩu nhiều hơn, mà phải tạo ra và nắm giữ nhiều giá trị gia tăng hơn; không chỉ thu hút các tập đoàn hàng đầu thế giới, mà còn phải phát triển những doanh nghiệp Việt Nam đủ năng lực tham gia bình đẳng và bền vững vào chuỗi cung ứng toàn cầu.

Ông Nguyễn Văn Đông Chủ tịch Hiệp hội Doanh nghiệp Điện tử Việt Nam
Ông Nguyễn Văn Đông

Đỗ Kiều

VnBusiness