VnBusiness

VnBusiness

VnBusiness
VnBusiness

Việt Nam

Chăn nuôi khó khăn vẫn phải nhập thức ăn

Chăn nuôi khó khăn vẫn phải nhập thức ăn

Trong khi ngành chăn nuôi lợn đang nóng ruột chờ “giải cứu”, việc nhập khẩu thức ăn chăn nuôi vẫn tăng mạnh. Song điều đáng nói là nguồn cung cấp thức ăn chăn nuôi và nguyên liệu hàng đầu ở Việt Nam hiện nay cũng chính là nơi khiến thịt lợn Việt gặp khủng hoảng vì chưa xuất khẩu chính ngạch và từ chối mua hàng sau một thời gian thu mua giá cao - đó là thị trường Trung Quốc.

Thống kê cho thấy, trong quý I/2017, nhập khẩu thức ăn chăn nuôi và nguyên liệu của Việt Nam từ một số thị trường có kim ngạch tăng trưởng mạnh. Cụ thể, Việt Nam đã chi gần 900 triệu USD nhập khẩu thức ăn chăn nuôi (TACN) và nguyên liệu, tăng 33,36% so với cùng kỳ năm 2016.

Nhập nhiều, giá tăng đều

Riêng với Trung Quốc, thị trường đứng thứ hai về nhập khẩu TACN vào Việt Nam, trong tháng 3/2017 đạt kim ngạch nhập khẩu hơn 17 triệu USD, tăng 87,62% so với tháng 2/2017 và tăng 27,8% so với cùng kỳ năm 2016. Tính chung, trong quý I/2017, Việt Nam đã chi hơn 38 triệu USD nhập khẩu TACN và nguyên liệu từ thị trường Trung Quốc.

Theo Báo cáo của Vụ Thị trường trong nước (Bộ Công Thương), tổng đàn lợn và sản lượng thịt lợn luôn tăng đều qua các năm nên việc gia tăng nhập khẩu TACN cũng là điều dễ hiểu.

Ước tính tổng đàn lợn cả nước tháng 2/2017 tăng từ 4,5 – 5,2%. Đến tháng 3/2017 tăng 1,5 – 2% so với cùng kỳ năm 2016. Ước tính sản lượng thịt lợn hơi xuất chuồng tháng 3/2017 tăng 4,3% so với cùng kỳ năm 2016.

Theo dự báo, trong năm 2017, tổng sản lượng thịt hơi các loại dự kiến đạt 5.301.000 tấn, tăng 5,3% so với năm 2016. Trong đó, thịt lợn hơi ước đạt 3.755.000 tấn, tăng 3,3% so với năm 2016. Điều này đồng nghĩa thị trường TACN cho riêng đàn lợn vẫn còn rất màu mỡ.

Trước tình hình “khủng hoảng” thừa thịt lợn hiện nay, giá TACN đang được các cơ quan quản lý để mắt tới, nhất là trong bối cảnh Việt Nam phụ thuộc vào phần lớn TACN và nguyên liệu nhập khẩu. Chính điều này đã ảnh hưởng lớn đến tính cạnh tranh của thịt lợn Việt Nam và bất lợi cho người chăn nuôi.


Trong diễn biến mới nhất, Bộ Tài chính vừa có công văn gửi các doanh nghiệp (DN) TACN nhằm đề nghị kiểm soát chặt chẽ các yếu tố hình thành giá khi xây dựng phương án giá TACN.

Bộ này cũng lưu ý cần rà soát, tính toán và có các giải pháp công nghệ, quản lý phù hợp nhằm tiết kiệm chi phí, giảm giá thành, giá bán sản phẩm TACN; không điều chỉnh tăng giá bán TACN khi các yếu tố hình thành giá không thay đổi.

Lâu nay, mặt bằng giá TACN thường ở mức cao luôn là nỗi lo lớn của những người chăn nuôi dù rằng từ cách đây hai năm, Bộ Tài chính đã đưa thuế VAT với thức ăn chăn nuôi về 0%.

Bên cạnh đó, trên thực tế, tình trạng người dân chăn nuôi theo phong trào, gia tăng đầu tư hệ thống chuồng trại nên không dễ giảm ngay tổng cho lượng TACN tiêu thụ trong nước sẽ khó giảm.

VnBusiness

Mỗi năm, Việt Nam bỏ ra hơn 3 tỷ USD để nhập khẩu thức ăn chăn nuôi

Người chăn nuôi “lĩnh” đủ

Vấn đề đặt ra ở đây là ngành chăn nuôi Việt Nam chứa đựng nhiều rủi ro, yếu kém, với việc phụ thuộc nguồn TACN nhập khẩu là một trong những nguyên nhân gây nên tình trạng này. Hiện nay, Việt Nam phải chi 3 tỷ USD/năm để nhập TACN.

Thống kê của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (NN&PTNT) cho thấy, năm 2016, Việt Nam đã nhập khẩu 3,39 tỷ USD TACN và nguyên liệu. Là một nước nông nghiệp nhưng thật trớ trêu khi Việt Nam phải nhập khẩu 8,3 triệu tấn ngô (1,65 tỷ USD) trong năm 2016 và nhập 1,56 triệu tấn đậu nành để làm nguyên liệu chế biến TACN.

Chính Ts. Đặng Kim Sơn – nguyên Viện trưởng Viện Chính sách Chiến lược (Bộ NN&PTNT) - phải thừa nhận là ngành chăn nuôi hiện nay phụ thuộc lớn vào thức ăn nhập khẩu nên giá trị của ngành không cao, thậm chí chỉ lấy công làm lãi.

Theo Ts. Sơn, một số vùng sản xuất TACN của Việt Nam đã không phát triển được vì năng suất cây trồng kém, người dân không tham gia nổi vào chuỗi cung ứng TACN cho DN. Trong 5 năm gần đây, giá TACN tăng mạnh, ảnh hưởng nghiêm trọng đến chiến lược phát triển của ngành, mang lại giá trị gia tăng thấp cho người chăn nuôi trong nước.

Trong câu chuyện nhập khẩu đầy nghịch lý này, nhìn từ cuộc khủng hoảng thịt lợn, giới chuyên gia tỏ ý chê trách Bộ NN&PTNT và cả Bộ Công Thương đều thiếu những cán bộ xứng tầm khi để diễn ra một thời gian dài tiêu tốn quá nhiều ngoại tệ nhập TACN mà thiếu quy hoạch hiệu quả các vùng nguyên liệu chế biến TACN.

Điều đáng nói là TACN chiếm đến 70 – 75% giá thành sản phẩm nuôi. Trong khi người chăn nuôi lấy công làm lãi, phần lợi nhuận xem như rơi vào tay các DN nhập khẩu và DN chế biến TACN (đa số được DN có vốn đầu tư nước ngoài nắm giữ). Thống kê năm 2016 cho thấy, tuy chỉ có 59 trong tổng số 239 nhà máy chế biến TACN trên cả nước, song khối DN có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (gồm liên doanh và 100% vốn ngoại) lại chiếm hơn 60% tổng sản lượng.

Trên thực tế, suốt một thời gian dài, người chăn nuôi được xem như “con gà đẻ trứng vàng” cho các DN nhập khẩu, sản xuất TACN. Nhưng tới khi xảy ra cuộc khủng hoảng thịt lợn như hiện nay, bên thiệt thòi nhất chính là người chăn nuôi mà không phải DN.

Vậy Bộ NN&PTNT, Bộ Công Thương và các cơ quan quản lý liên quan làm gì, nghĩ gì để ngăn chặn sự bất hợp lý này? Những câu hỏi dài vẫn còn bỏ ngỏ ở phía trước khi nhìn vào tình hình “giải cứu” thịt lợn nhọc nhằn như hiện nay.

Thế Vinh
 

}

Ba ba gai Cát Thịnh “mỏ vàng” mới từ kinh tế ao nuôi

Dưới những ao nuôi được kè bờ chắc chắn ở thôn Văn Hưng, xã Cát Thịnh, tỉnh Lào Cai, những con ba ba gai thương phẩm đang được HTX Chăn nuôi ba ba gai Cát Thịnh chăm sóc cẩn trọng. Mỗi con có giá từ 3 đến 5 triệu đồng, chưa kể hàng vạn con giống...

VnBusiness