Báo cáo Năng lực cạnh tranh toàn cầu WEF vừa được công bố cho thấy Việt Nam tăng 12 bậc trong danh sách 140 nước. Trả lời phỏng vấn bên lề Diễn đàn Đầu tư toàn cầu Việt Nam 2015 diễn ra tại Hà Nội ngày 30/9, Bộ trưởng Bộ KH&ĐT Bùi Quang Vinh cho rằng việc tăng bậc năng lực cạnh tranh những năm qua đã phản ánh những nỗ lực của Việt Nam khi tham gia sân chơi toàn cầu.
Diễn đàn Kinh tế thế giới (WEF) vừa công bố báo cáo Năng lực cạnh tranh toàn cầu 2015, cho thấy thứ hạng của Việt Nam liên tục được cải thiện từ năm 2012 đến nay. Ông nhận xét thế nào về kết quả này?
Tôi cho rằng đó là kết quả của việc Việt Nam chấp nhận cuộc chơi toàn cầu. Năm nào mình làm tốt thì thứ hạng tăng, làm dở hoặc có nước nào khác làm tốt hơn thì họ hạ bậc. Việc thứ hạng tăng liên tục phần nào phản ánh nỗ lực của Việt Nam, nhất là vừa qua, khi Chính phủ ra Nghị quyết 19, nhằm cải thiện trực tiếp vào thủ tục hành chính, năng lực cạnh tranh của nền kinh tế.
Vị trí 56 trong danh sách 140 nền kinh tế phản ánh như thế nào về năng lực cạnh tranh của Việt Nam, thưa ông?
Tôi nghĩ việc có hơn 700 đại biểu đến từ 32 nước quan tâm đến diễn đàn sáng nay đã phần nào cho thấy năng lực cạnh tranh của nền kinh tế và sức hấp dẫn khi đầu tư vào Việt Nam. Với Nghị quyết 19 về cải cách thủ tục hành chính, việc ký kết các hiệp định thương mại tự do, đàm phán TPP vừa qua cho thấy chúng ta đã làm hết sức để cải thiện năng lực cạnh tranh.
Nhìn lại từ năm 2011 đến nay, đã có lúc người ta thấy kinh tế Việt Nam rất khó khăn, nhưng đến nay, tôi khẳng định những mục tiêu mà Chính phủ đặt ra là hoàn toàn thực hiện được. Lạm phát năm nay sẽ không quá 1,5-2%, trong khi GDP sẽ đạt ít nhất là bằng mục tiêu đề ra là 6,53%, đưa mức bình quân 5 năm suýt soát 6%. Sang năm 2016, tăng trưởng dự kiến là 6,7%.
Nền kinh tế vừa qua phải đối mặt với nhiều khó khăn, dự toán ngân sách tính giá dầu 110 USD một thùng nhưng nay bán chưa đến 50 USD một thùng nhưng vẫn đảm bảo thu. Vừa qua, tăng trưởng Trung Quốc giảm nhưng Việt Nam có thể biến đó thành cơ hội cho mình... Điều đó cho thấy nền kinh tế xoay xở tốt, năng lực cạnh tranh phần nào được nâng cao.
Tăng hạng liên tục những năm qua nhưng Việt Nam vẫn ở ngưỡng trung bình của thế giới về năng lực cạnh tranh.
Vậy trong những yếu tố tạo nên năng lực cạnh tranh, ông thấy điều gì được cải thiện nhiều nhất thời gian qua?
Đó là câu chuyện thể chế. Chúng ta đã tạo ra các luật, nghị định theo hướng minh bạch hơn như Luật Doanh nghiệp, Luật Đầu tư. Nghị quyết 19 thì cải thiện trực tiếp vào thủ tục hành chính. Tôi nghĩ đó là cái lớn nhất mà Việt Nam làm được.
Dù thăng hạng liên tục trong những năm qua nhưng Việt Nam vẫn chỉ ở khoảng trung bình của danh sách. Chính phủ và doanh nghiệp cần làm gì để năng lực cạnh tranh tiếp tục được cải thiện?
Phải chấp nhận cạnh tranh, đó là cách duy nhất. Ở diễn đàn sáng nay có ý kiến nói phải bảo hộ doanh nghiệp trong nước. Tôi thì nói rằng việc chúng ta gia nhập các FTA một phần vì mong muốn hội nhập mạnh mẽ hơn, chấp nhận cạnh tranh nhiều hơn để phát triển.
Đàm phán TPP, người ta đang nói nhiều về cơ hội nhưng thách thức là rất lớn. Thịt bò, sữa, nông sản... là những ví dụ. Nếu không chuẩn bị kỹ, chấp nhận cạnh tranh thì đừng nghĩ đến hội nhập, mà có khi mất thị trường ngay trên sân nhà. Đó là điều chúng tôi lo lắng và quan tâm nhất về năng lực cạnh tranh.
Một sản phẩm tốt chưa đủ để tạo nên một thương hiệu mạnh. Trong bối cảnh cạnh tranh ngày càng khốc liệt như hiện nay, doanh nghiệp cần biết thấu hiểu khách hàng, có trách nhiệm với người lao động và cộng đồng, đồng thời chủ động kết nối thương hiệu của mình với thương hiệu ngành hàng, địa phương và quốc gia.
Trước bối cảnh yêu cầu chống phá rừng và truy xuất nguồn gốc của Liên minh châu Âu (EU) ngày càng khắt khe, các doanh nghiệp xuất khẩu không thể chỉ chú ý đến sản lượng và giá cả, mà đồng thời phải quan tâm sâu hơn đến nguồn gốc của nguyên liệu. Nếu một mắt xích không cung cấp được thông tin cần thiết thì việc truy xuất toàn bộ lô hàng sẽ gặp khó khăn.
Từ sản vật địa phương, nghề truyền thống đến tri thức cộng đồng, phụ nữ vùng cao đang từng bước biến những nguồn lực sẵn có thành sản phẩm và sinh kế. Khi được trao thêm kiến thức, kết nối thị trường và cơ hội đổi mới, những giá trị bản địa có thể trở thành động lực giúp phụ nữ dân tộc thiểu số làm kinh tế bền vững.
Thương mại Việt - Pháp tăng trưởng tích cực, trong khi dòng vốn đầu tư của Pháp tại Việt Nam còn nhiều dư địa. Theo TS Bùi Duy Tùng, giảng viên cấp cao ngành Kinh tế, Đại học RMIT Việt Nam, tiến trình phê chuẩn Hiệp định Bảo hộ đầu tư giữa Việt Nam và Liên minh châu Âu (EVIPA) có thể tạo xung lực mới cho dòng vốn đầu tư chất lượng cao từ Pháp vào Việt Nam.
Quy mô gần 1.500 HTX đưa Ninh Bình mới trở thành một trong những địa phương có khu vực kinh tế tập thể lớn nhất cả nước. Nhưng phía sau con số này là bài toán chất lượng: phần đông HTX còn nhỏ, năng lực quản trị hạn chế, khó thu hút nhân lực trẻ và chưa khai thác hết lợi thế OCOP, nông nghiệp và du lịch.
Những vụ thực phẩm bị phát hiện sai lệch về nguồn gốc, xuất xứ cho thấy rủi ro không chỉ nằm ở sản phẩm mà còn ở cách thức quảng cáo, kinh doanh trên mạng. Theo Tiến sĩ Trần Thị Dung, muốn ngăn chặn vi phạm từ gốc, cần chuyển mạnh từ tiền kiểm sang hậu kiểm, đồng thời truy rõ nguồn nguyên liệu, cơ sở sản xuất và trách nhiệm pháp lý của người bán.
Cuộc đua flagship (sản phẩm chủ lực/cao cấp nhất) giữa Apple và Samsung đang nóng lên khi iPhone 18 Pro Max và Galaxy S26 Ultra sở hữu những lợi thế hoàn toàn khác biệt.
Chuyển đổi số từ lâu đã không còn là câu chuyện riêng của những HTX quy mô lớn. Ở những HTX quy mô nhỏ, từ quản lý sản xuất, điều hành đến truy xuất nguồn gốc và tiêu thụ sản phẩm, những công cụ số đang giúp HTX nâng hiệu quả hoạt động và từng bước...