VnBusiness

VnBusiness

VnBusiness

Tiêu điểm

Sửa Luật Điện lực: Làm sao để vốn tỷ USD thực sự chảy vào các dự án điện?

Sửa Luật Điện lực: Làm sao để vốn tỷ USD thực sự chảy vào các dự án điện?

Trong lúc sửa đổi Luật Điện lực để thúc đẩy các dự án nguồn điện cấp bách, một nghịch lý đặt ra: ngành điện cần gấp nhưng vốn tỷ USD không thể xuống tiền nếu cơ chế chưa đủ chắc. Hợp đồng, đấu thầu và các cơ chế bảo đảm vì thế phải đủ rõ để doanh nghiệp dám bỏ vốn, ngân hàng dám cho vay.

Quy hoạch điện 8 điều chỉnh đang đặt trọng tâm vào LNG, điện gió ngoài khơi, điện hạt nhân, năng lượng tái tạo và hệ thống lưu trữ. Đây đều là những dự án cần vốn lớn, thời gian thu hồi dài, đòi hỏi cơ chế đủ ổn định để thu hút nguồn lực quốc tế vào ngành điện.

Hợp đồng phải đủ chắc để ngân hàng dám cho vay

Với những dự án có vòng đời hàng chục năm, hợp đồng đủ rõ và có khả năng thực thi là điều kiện tiên quyết để dòng vốn quốc tế vào ngành điện Việt Nam. Theo luật sư Trần Anh Đức, Công ty Luật A&O Shearman, nếu luôn e ngại rủi ro, Việt Nam sẽ khó thu hút nguồn vốn quốc tế cho các dự án điện cấp bách. Những dự án như LNG, điện gió ngoài khơi, điện hạt nhân hay hệ thống lưu trữ đều cần khoản đầu tư rất lớn, trong khi thời gian thu hồi vốn dài. Vì vậy, rủi ro hợp đồng không thể bị xem là lý do để tránh đầu tư, mà phải được nhận diện, phân bổ và kiểm soát ngay từ quá trình đàm phán.

Các dự án điện gió cần cơ chế đủ chắc để thu hút dòng vốn tỷ USD, sớm biến tiềm năng thành nguồn điện thực tế.
Các dự án điện gió cần cơ chế đủ chắc để thu hút dòng vốn tỷ USD, sớm biến tiềm năng thành nguồn điện thực tế.

Thực tế các dự án BOT điện đã vận hành tại Việt Nam cho thấy vốn quốc tế hoàn toàn có thể vào những dự án điện quy mô lớn nếu cơ chế đủ chắc. Ông Nguyễn Thế Vinh, Chủ tịch HĐQT Công ty TNHH Điện lực Vân Phong, cho biết hiện có 9 nhà máy điện BOT đang vận hành ổn định, đóng góp khoảng 15% sản lượng điện quốc gia và thu hút khoảng 15-20 tỷ USD vốn nước ngoài.

Từ những dự án này có thể thấy, nguồn vốn quốc tế có thể vào ngành điện nếu dự án đủ rõ để nhà đầu tư và ngân hàng tính được rủi ro dài hạn. Nhà đầu tư cần biết đầu ra, cơ chế bán điện và dòng tiền. Còn ngân hàng cần nhìn thấy khả năng trả nợ và phương án xử lý khi rủi ro phát sinh.

Đây là lý do ông Đức đề nghị sớm ban hành mẫu hợp đồng mua bán điện có khả năng huy động vốn quốc tế, thường gọi là “bankable PPA”, áp dụng cho các dự án điện lực cấp bách, đặc thù. Theo ông, có thể nghiên cứu bổ sung cơ chế này vào Điều 44 của dự thảo Luật Điện lực sửa đổi, đồng thời xác định rõ lộ trình và đầu mối thực hiện.

Muốn có thêm điện, trước hết phải khiến vốn tỷ USD xuống tiền. Muốn vậy, dự án phải đủ chắc để nhà đầu tư tính được rủi ro, ngân hàng nhìn thấy dòng tiền.

“Bankable PPA” có thể hiểu đơn giản là hợp đồng mua bán điện đủ chắc để ngân hàng đánh giá dòng tiền và quyết định cho vay. Với dự án tỷ USD, chỉ một điều khoản thiếu rõ ràng về trách nhiệm, thanh toán hay phân bổ rủi ro cũng có thể làm tăng chi phí vốn và khiến dự án chậm triển khai. Vì vậy, sau khi luật được thông qua, các quy định và mẫu hợp đồng cần sớm được cụ thể hóa để nhà đầu tư có thể sử dụng trong hồ sơ huy động vốn cho các dự án ngành điện.

Ông Vinh cho rằng việc điều chỉnh, bổ sung Điều 16 về hợp đồng dự án điện BOT trong dự thảo Luật Điện lực sửa đổi là cần thiết. Quy định này tạo cơ sở để Chính phủ ban hành chính sách huy động vốn, nhất là vốn quốc tế, trong bối cảnh nguồn vốn ngân hàng trong nước còn hạn chế.

Với những dự án có vòng đời hàng chục năm, hợp đồng phải đủ chắc để doanh nghiệp và ngân hàng tính được rủi ro. Nhưng PPA chỉ là một mắt xích trong cả chuỗi, bởi trước khi có hợp đồng mua bán điện, dự án phải được tìm kiếm, khảo sát và phát triển.

Bỏ tiền khảo sát, phải được tính công

Vậy ai sẽ bỏ tiền cho những công việc ban đầu này nếu công sức và chi phí của họ không được tính đến khi đấu thầu?

Theo bà Vũ Thị Dương, Phó tổng giám đốc Công ty TNHH ENERTRAG Việt Nam, nhà phát triển năng lượng tái tạo phải tự bỏ nguồn lực khảo sát, đánh giá tài nguyên và nghiên cứu khả thi ban đầu. Họ cũng phải thực hiện các nghiên cứu về kỹ thuật, môi trường và làm việc với địa phương, cơ quan liên quan.

Riêng với điện gió, khảo sát và đo gió cần nhiều thời gian, chi phí. Nếu đấu thầu không ghi nhận hoặc hoàn trả khoản này, sẽ nảy sinh nghịch lý: người bỏ tiền tìm dự án chưa chắc là người được làm dự án. Điều này khiến doanh nghiệp ngại đầu tư từ sớm, trong khi ngành điện lại cần thêm nhiều dự án mới để đáp ứng nhu cầu trong dài hạn.

Bà Dương đề nghị xây dựng cơ chế hoàn trả chi phí khảo sát, nghiên cứu phát triển dự án cho nhà phát triển ban đầu nếu không được lựa chọn làm nhà đầu tư. Đồng thời, có thể xem xét quyền ưu tiên hoặc quyền tham gia đặc biệt đối với doanh nghiệp đã thực hiện khảo sát, nghiên cứu ban đầu.

Cơ chế này vẫn có thể đi cùng yêu cầu đấu thầu minh bạch, đồng thời ghi nhận công sức và dữ liệu mà nhà phát triển đã tạo ra. Qua đó, doanh nghiệp có thêm động lực bỏ tiền và nguồn lực tìm kiếm các dự án mới cho ngành điện.

Người bỏ tiền tìm dự án chưa chắc được làm dự án. Ghi nhận chi phí khảo sát, nghiên cứu ban đầu sẽ tạo động lực để doanh nghiệp tiếp tục tìm kiếm nguồn điện mới.

Với điện gió ngoài khơi, yêu cầu này càng rõ. Ông Nguyễn Thế Vinh đề xuất có cơ chế ưu tiên đối với nhà đầu tư đã hoàn thành khảo sát điện gió ngoài khơi trong quá trình lựa chọn nhà đầu tư dự án tương ứng. Việt Nam cần những chính sách đủ thực tế và hấp dẫn để thu hút các dự án có quy mô vốn lớn, trong khi giảm bớt những rủi ro có thể dự báo từ trước.

Một yêu cầu khác là cải cách thủ tục phải đi đến cùng. Ông Vinh ủng hộ việc cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục trong lĩnh vực điện, trong đó có sửa đổi quy định về chủ trương đầu tư dự án điện lực. Nhưng theo ông, cần đánh giá kỹ việc bỏ một thủ tục có thực sự làm quy trình ngắn hơn hay chỉ chuyển phần việc sang một bước khác.

Nếu bỏ bước chủ trương đầu tư, các cơ quan quản lý cần hướng dẫn đầy đủ những bước tiếp theo, ai thực hiện và thời hạn bao lâu. Nếu không, doanh nghiệp có thể gặp một khoảng trống pháp lý mới ngay sau khi một thủ tục được cắt bỏ. Cắt thủ tục trên giấy nhưng thời gian thực tế không giảm thì chưa thể xem là cải cách đối với ngành điện.

Cùng với đó, các cơ chế thị trường cũng đang được mở rộng. Chính phủ đã ban hành Nghị định 243/2026/NĐ-CP ngày 26/6/2026, sửa đổi các quy định về mua bán điện trực tiếp (DPPA) và phát triển điện năng lượng tái tạo, điện năng lượng mới. Đây là một bước tiếp tục hoàn thiện cơ chế để mở rộng khả năng mua bán điện trực tiếp và tạo thêm không gian cho nguồn điện tái tạo.

Nhưng DPPA, đấu thầu hay thủ tục hành chính chỉ là từng mảnh ghép. Điều thị trường cần hơn là một chuỗi chính sách liền mạch, từ quy hoạch, khảo sát, đấu thầu đến hợp đồng mua bán điện và cơ chế bảo đảm, đủ rõ để dự án ngành điện có thể huy động vốn.

Vì vậy, sửa đổi Luật Điện lực không chỉ là thêm hay bỏ một điều khoản, mà phải tạo môi trường đủ ổn định, dễ dự báo để vốn quốc tế vào ngành điện đúng lúc. Khi các cơ chế từ quy hoạch đến huy động vốn được nối liền, doanh nghiệp mới có thể mạnh dạn phát triển dự án, còn ngân hàng có cơ sở thẩm định và giải ngân.

Ngành điện không thể chờ. Nhưng vốn tỷ USD chỉ xuống tiền khi dự án đủ chắc, chính sách đủ ổn định. Khi đó, quy hoạch điện mới có thể bước ra khỏi giấy và trở thành những nhà máy thực sự.

Thế Vinh

Video Đưa thổ cẩm Mường Hoa lên "xa lộ số"

Từ những khung cửi truyền thống của đồng bào Mông ở thung lũng Mường Hoa (Lào Cai), các sản phẩm thổ cẩm đã vươn lên các sàn thương mại điện tử, mở ra hướng phát triển mới cho nghề truyền thống nhờ ứng dụng khoa học công nghệ và chuyển đổi số.

VnBusiness