Từ dư thừa công suất đến cạnh tranh phát thải: Doanh nghiệp Việt buộc phải “xanh hóa để sống còn”
Khi các chuẩn mực về phát thải, ESG và minh bạch dữ liệu dần trở thành “ngôn ngữ chung” của thị trường, doanh nghiệp Việt không thể tiếp cận chuyển đổi xanh theo cách rời rạc. Từ bài học ngành xi măng, “xanh hóa” đang chuyển từ trách nhiệm môi trường sang chiến lược sống còn quyết định khả năng tồn tại và phát triển dài hạn.
Ngành xi măng Việt Nam đang được xem là một điển hình cho bài toán kép “kinh tế - phát thải”. Kỹ sư Nguyễn Thiên Phúc, Phó giám đốc Công ty Đầu tư Xây dựng Thiết kế Ancon, Thành viên Câu lạc bộ Các nhà khoa học trẻ Tp.HCM, dẫn số liệu từ Bộ Xây dựng cho thấy cách đây 2 năm thị trường nội địa dự kiến tiêu thụ khoảng 60-62 triệu tấn, trong khi cả nước có 61 nhà máy với tổng công suất thiết kế 117 triệu tấn/năm và năng lực thực tế có thể trên 130 triệu tấn/năm.
Từ bài học ngành xi măng
Như vậy, dư thừa công suất làm cạnh tranh giá gay gắt. Tình trạng dư cung quá lớn khiến doanh nghiệp (DN) sản xuất xi măng nội địa rất khó khăn, năng lực sản xuất quá lớn, nhưng bán hàng chậm, biên lợi nhuận mỏng. Một số nhà máy còn bán dưới giá thành sản xuất, dẫn tới thua lỗ nặng.
Đơn cử như CTCP Xi măng Vicem Hải Vân (HVX) do áp lực cạnh tranh, chi phí cao cùng khó khăn trong sản xuất đã khiến kết quả kinh doanh đi xuống, thua lỗ trong nhiều năm liên tiếp.
Theo Báo cáo tài chính quý 4/2025, DN này tiếp tục lỗ 14 tỷ đồng, cũng là quý 11 liên tiếp thua lỗ. Tính đến cuối 2025, lỗ lũy kế hơn 142 tỷ đồng. Chưa hết, trong tháng 1/2025, HVX đã công bố thông tin về việc biến động lớn về nhân sự khi Chủ tịch HĐQT cùng Thành viên HĐQT của công ty có đơn từ nhiệm.
Như giải trình của HVX, thị trường tiêu thụ xi măng tại khu vực miền Trung - Tây Nguyên đang đối mặt với mức độ cạnh tranh gay gắt, khi nhiều thương hiệu giá rẻ gia tăng sự hiện diện.
Không chỉ DN nêu trên, ngoài áp lực cạnh tranh thì việc thắt chặt về môi trường đang là thách thức lớn với các DN xi măng. Ngành xi măng hiện đang đóng góp khoảng 16 – 17% vào lượng khí thải CO2 hàng năm của Việt Nam.
Do đó, các chính sách quản lý bảo vệ môi trường trong sản xuất xi măng ngày càng được thắt chặt như quy định về mức phát thải tối thiểu cho phép/tấn xi măng. Các nhà máy có công suất lớn phải lắp đặt hệ thống WHR (thu hồi nhiệt thải) và toàn ngành phải sử dụng tối thiểu 30% nguyên liệu thay thế nhằm giảm thiểu lượng bụi và khí phát thải ra môi trường.
Nếu không đáp ứng đủ các tiêu chuẩn trên, các DN xi măng có thể bị xử phạt hành chính hoặc nặng hơn là cưỡng ép dừng hoạt động gây gián đoạn sản xuất.
Chính vì vậy, như khuyến cáo của kỹ sư Nguyễn Thiên Phúc, nếu cộng thêm áp lực carbon, các DN ngành xi măng càng cần một chiến lược “xanh hóa để sống còn”.
Và ông Phúc có đưa ra một số giải pháp khả thi cho DN xi măng trong giai đoạn 2026-2030. Thứ nhất là cần giảm clinker bằng phụ gia khoáng (xỉ lò cao, tro bay, đá vôi, puzzolan...) - hướng đi được nhấn mạnh trong các phân tích kỹ thuật giảm phát thải.
Thứ hai là tối ưu nhiệt và nhiên liệu (tăng hiệu suất lò, cải tiến đốt, tăng nhiên liệu thay thế phù hợp quy định môi trường). Thứ ba là tận dụng nhiệt thải và số hóa quản lý năng lượng.
Thứ tư là chuẩn bị MRV (Đo lường, Báo cáo và Kiểm chứng) để sẵn sàng cho cơ chế hạn ngạch/ETS (hệ thống giao dịch phát thải). Nhất là khi Việt Nam đã triển khai giai đoạn đầu cơ chế giao hạn ngạch và ETS thí điểm cho các ngành phát thải lớn, trong đó xi măng nằm trong nhóm trọng điểm.
Nhìn từ câu chuyện ngành xi măng Việt Nam với tình cảnh “dư thừa công suất” sang “cạnh tranh xanh hóa” cũng để thấy đó là bài học cho các DN nội địa trong ngành công nghiệp chế biến chế tạo. Không gì khác hơn, họ cần có một chiến lược “xanh hóa để sống còn”.
Đến “bài toán tổng hợp” cần lời giải
Như với ngành xây dựng, theo kỹ sư Nguyễn Thiên Phúc, mỗi DN cần chủ động thực hiện “chuyển đổi kép” - vừa số hóa hoạt động, vừa giảm phát thải - như một chiến lược sống còn.
Ông Phúc cho rằng giai đoạn 2026-2030 là một “cửa sổ cơ hội” mang tính chiến lược để ngành xây dựng Việt Nam chuyển mình theo mô hình tăng trưởng mới: Hiệu quả hơn - minh bạch hơn - phát thải thấp hơn, đồng thời nâng năng lực cạnh tranh của DN Việt trong chuỗi giá trị trong nước và quốc tế.
“Khi các chuẩn mực về ESG (Môi trường - Xã hội - Quản trị), phát thải, hiệu quả năng lượng và truy xuất dữ liệu ngày càng trở thành “ngôn ngữ chung” của thị trường, thì xây dựng xanh và chuyển đổi số không còn là lựa chọn tự nguyện. Đó là năng lực bắt buộc nếu DN muốn tiếp cận vốn, tiếp cận dự án tốt, giữ vị thế trong chuỗi cung ứng và phát triển bền vững dài hạn”, ông Phúc nhấn mạnh.
Còn theo bà Nguyễn Thái Quỳnh Lê, Ủy viên ban chấp hành Hiệp Hội các Nhà Bán Lẻ Việt Nam, chuyển đổi xanh không chỉ là câu chuyện của môi trường, mà đã trở thành “bài toán tổng hợp” của dòng vốn, năng lượng, quản trị DN và hành vi thị trường. Và chuyển đổi xanh không chỉ là trách nhiệm xã hội, mà còn là yếu tố cốt lõi giúp DN nâng cao năng lực cạnh tranh trong bối cảnh thị trường thay đổi nhanh chóng.
“Trong bối cảnh hiện nay, ESG không còn đơn thuần là một bộ tiêu chí hay yêu cầu tuân thủ, mà đang dần trở thành ngôn ngữ chung giữa DN, nhà đầu tư và các tổ chức tài chính”, bà Lê nói rõ.
Bà Lê cũng cho rằng DN nào hiểu đúng bản chất, triển khai thực chất và xây dựng lộ trình phù hợp với năng lực nội tại sẽ có nhiều cơ hội hơn trong việc tiếp cận nguồn vốn, tối ưu chi phí và tạo dựng lợi thế cạnh tranh dài hạn”.
Có thể thấy rõ giai đoạn 2026-2030 là thời kỳ mà “xanh hóa” chuyển từ lựa chọn tự nguyện sang năng lực cạnh tranh bắt buộc. Các nhà sản xuất của Việt Nam không thể tiếp tục coi chuyển đổi xanh là hoạt động truyền thông, mà ngược lại, “xanh” phải được cụ thể hóa thành năng lực quản trị có thể đo lường, có thể cải tiến và có thể giải trình.
Theo giới chuyên gia, chi phí tuân thủ phát thải và yêu cầu minh bạch dữ liệu sẽ tăng dần. Và DN nào chuẩn bị sớm sẽ biến “tuân thủ” thành “lợi thế”. Điều này đòi hỏi họ cần xây dựng “bản đồ tiêu thụ” và “bản đồ phát thải” theo chuỗi hoạt động từ đầu vào cho đến vận hành và đầu ra.
Và đứng ở góc độ DN, ông Trần Anh Tuấn, Giám đốc Solar Tập Đoàn Điện Quang, nói rằng DN Việt Nam không chỉ chịu áp lực từ chính sách trong nước, mà còn từ các đối tác, nhà đầu tư và thị trường xuất khẩu. Những tiêu chuẩn mới đang dần trở thành “giấy thông hành” để DN tiếp cận dòng vốn, tham gia chuỗi cung ứng toàn cầu và duy trì năng lực cạnh tranh dài hạn.
Tựu trung, những thách thức về xanh hóa trong giai đoạn 2026 - 2030 sẽ còn đầy rẫy ở phía trước buộc các DN Việt phải có chiến lược “sống còn”. Họ sẽ cần chuyển từ tiếp cận rời rạc sang chiến lược tổng thể cho việc xanh hóa. DN nào làm chủ được tư duy này sớm sẽ có lợi thế rõ rệt về chi phí, thương hiệu và khả năng thích ứng với các biến động thị trường.
Thế Vinh

“Gửi” hơn 1.300 tỷ đồng tại VAMC, tỷ lệ nợ xấu của OCB vẫn ở mức 3,17%
NCB bứt tốc năm 2025: Tăng vốn sớm, hoàn thành vượt mọi kế hoạch kinh doanh
Giá vàng trong nước ghi nhận mức giảm kỷ lục: gần 10 triệu trong 1 ngày
Eximbank báo lãi hơn 1.500 tỷ đồng, ưu tiên dự phòng rủi ro trong giai đoạn chuyển đổi

Chưa thể ngăn dòng tiền lướt sóng bất động sản ‘cuồn cuộn chảy’
Nghịch lý tại Nam Long: Tồn kho giảm nhưng doanh thu, lợi nhuận đi lùi
Đại đô thị Eco Retreat: Động thổ trường Phổ thông liên cấp Edison quy mô 3600 học sinh
Trợ lực tài chính giúp người trẻ hiện thực hóa giấc mơ an cư giữa trung tâm xứ Thanh
8 nhà băng trong ‘câu lạc bộ triệu tỷ’: Big 4 áp đảo, khối tư nhân trỗi dậy
Đến hết năm 2025, hệ thống ngân hàng Việt Nam ghi nhận 8 tổ chức tín dụng đạt quy mô tổng tài sản trên 1 triệu tỷ đồng.
Đừng bỏ lỡ
HTX nông nghiệp nâng tầm giá trị nông sản địa phương
Trong bối cảnh sản xuất nông nghiệp còn manh mún, đầu ra thiếu ổn định, nhiều HTX nông nghiệp trên địa bàn tỉnh Cao Bằng đang từng bước khẳng định vai trò “bà đỡ” cho nông sản địa phương.





























