Một số tổ chức đã không tuân thủ đầy đủ các quy trình bảo mật an toàn thông tin (ATTT), dẫn đến sự cố khách hàng bỗng dưng bị mất tiền trong tài khoản dù thẻ ATM vẫn trong ví, hay trường hợp sổ tiết kiệm vẫn trong két nhưng tiền vẫn bị rút gần hết vừa xảy ra tại ngân hàng Vietinbank.
Trong bối cảnh cách mạng công nghiệp 4.0, với sự bùng nổ của công nghệ như Big Data, Cloud Services, Trí tuệ nhân tạo, Kết nối vạn vật… các tổ chức và doanh nghiệp phải đối mặt với rất nhiều rủi ro và hiểm họa về mất ATTT.
Dù các tổ chức trong ngành tài chính, ngân hàng luôn là các đơn vị đi đầu trong công tác bảo đảm ATTT cũng như có đầu tư cho các giải pháp, công cụ để ngăn chặn, phát hiện sớm các rủi ro, mất mát trong thanh toán điện tử nhưng hệ thống vẫn xuất hiện nhiều lỗ hổng dễ khai thác, gián điệp kinh tế, rủi ro từ thiết bị di động và thiếu hiểu biết về thao tác bảo mật cơ bản trong nội bộ gây thất thoát dữ liệu…
Bằng chứng là thời gian qua, liên tục xảy ra hiện tượng nhiều chủ thẻ tại Việt Nam bị đánh cắp tiền trong tài khoản.
Phóng viên Thời báo Kinh doanh đã có cuộc trao đổi với chuyên gia Thanut Pimhataivoot của tập đoàn NTT Data, Thái Lan xung quanh vấn đề này.
Ông đánh giá như thế nào về bảo mật ATTT của ngành ngân hàng Việt Nam?
Tôi đã có kinh nghiệm làm việc với Ngân hàng Nhà nước và một số đối tác ở Việt Nam nên nhận thấy ngành ngân hàng ở Việt Nam đang phát triển rất nhanh, cùng với đó là hệ thống bảo mật ATTT trong lĩnh vực này rất phát triển.
Hiện nay, Việt Nam đã ban hành nhiều quy định về bảo mật ATTT theo các thông lệ tốt nhất trên thế giới như: ISO 27001, NIST 800-53, TCVN 11894:2007 – tiêu chuẩn quốc gia được ban hành gần đây và chuẩn ATTT cho ngành ngân hàng như PCI DSS, CSP (SWIFT)…
Có thể nói, hệ thống bảo mật ATTT trong ngành ngân hàng ở Việt Nam rất tốt cả về khía cạnh quản trị cũng như an ninh, an toàn. Bên cạnh đó, tôi rất ấn tượng trước số lượng lớn cơ quan, tổ chức quan tâm và tham gia chủ đề ATTT.
Chuyên gia Thanut Pimhataivoot của tập đoàn NTT Data, Thái Lan
Dù được đánh giá có quy trình bảo mật ATTT tốt, song thời gian vừa qua, ngành ngân hàng liên tục xảy ra hiện tượng nhiều chủ thẻ bị đánh cắp tiền trong tài khoản. Vậy theo ông, nguyên nhân do đâu, lỗ hổng nào hay bị các đối tượng khai thác?
Khi chúng ta có quy trình bảo mật ATTT rất tốt nhưng đôi khi một số tổ chức không tuân thủ đầy đủ các quy trình bảo mật đó sẽ dẫn đến sự cố như vậy có thể xảy ra.
Trước kia, khi khách hàng đến ngân hàng rút tiền phải xuất trình chứng minh thư, nhưng bây giờ với thẻ thanh toán, chúng ta thấy nó ở dạng từ nên dễ làm giả, copy. Đây chính là lỗ hổng giúp những kẻ xâm hại đánh cắp tài khoản của khách hàng. Lợi dụng khi chủ tài khoản hoặc ngân hàng không tuân thủ nghiêm ngặt quy trình bảo mật, những đối tượng này đã copy được thẻ đó và hoàn toàn chiếm quyền kiểm soát đối với tài khoản của chủ thẻ và lấy được tiền.
Suy cho cùng, vẫn là quy trình bảo mật thông tin, làm thế nào chúng ta phải có quy trình tốt, có khả năng xác thực và phải có các bằng chứng cùng các cơ chế giúp thẻ bảo mật tốt hơn. Ví dụ như thông qua hệ thống chip để khó có thể được copy, có như vậy mới an toàn hơn.
Ngoài ra, các ngân hàng phải tuân thủ nghiêm ngặt chu trình đảm bảo ATTT, từ thiết kế, xây dựng đến vận hành, nâng cấp. Thậm chí hủy bỏ cũng cần đáp ứng theo chu trình đảm bảo ATTT.
Theo ông, tiêu chuẩn bảo mật thông tin trong lĩnh vực ngân hàng ở Việt Nam có đáp ứng được điều kiện bảo mật thông tin khi mở rộng kinh doanh sang các nước khác trên thế giới?
Đối với ngành ngân hàng ở khu vực Đông Nam Á nói riêng và trên thế giới nói chung có một đặc điểm là hoạt động vượt khỏi phạm vi biên giới, hay nói cách khác là không có biên giới trong hoạt động ngân hàng.
Ở đây chúng ta thấy, khi các ngân hàng trung ương ở mỗi quốc gia ban hành tiêu chuẩn về ATTT, những tiêu chuẩn này phải hài hòa với nhau, giúp cho các ngân hàng khi đã tuân thủ được tiêu chuẩn ATTT ở quốc gia này sẽ tuân thủ được tiêu chuẩn tương tự ở những quốc gia khác. Điều này đặc biệt đúng đối với khu vực Đông Nam Á, khu vực ASEAN.
Đối với cộng đồng ASEAN, việc hài hòa hóa các tiêu chuẩn này sẽ tạo điều kiện cho các ngân hàng hội nhập. Ví dụ, thời gian qua, có nhiều ngân hàng Việt Nam dễ dàng mở rộng hoạt động kinh doanh của mình sang Lào, Campuchia, Myanmar… Như vậy có nghĩa là các tiêu chuẩn đang được áp dụng ở Việt Nam đáp ứng tốt tiêu chuẩn quốc tế.
Thực tế, việc hài hòa hóa các tiêu chuẩn ATTT như vậy rất quan trọng, không chỉ giúp các ngân hàng bảo mật thông tin cho khách hàng, mà còn mở rộng địa bàn hoạt động của mình.
Khoảng cách về công nghệ, hạn chế về nhân lực và hạ tầng nghiên cứu đang là những thách thức lớn đối với doanh nghiệp nông nghiệp trong nước. Để các doanh nghiệp có thể tạo bước đột phá về tăng trưởng, cần có sự đồng bộ thể chế, cơ chế hỗ trợ thực chất và đầu tư cho khoa học công nghệ.
Tăng trưởng GDP trên 9% đang tạo thêm dư địa để nâng việc làm, thu nhập và cải thiện đời sống người dân. Tuy nhiên, chênh lệch về nguồn lực, hạ tầng, năng lực thực thi và khả năng tiếp cận chính sách giữa các địa phương vẫn là rào cản khiến thành quả tăng trưởng chưa lan tỏa đồng đều, nhất là tại những vùng còn nhiều khó khăn.
Một sản phẩm tốt chưa đủ để tạo nên một thương hiệu mạnh. Trong bối cảnh cạnh tranh ngày càng khốc liệt như hiện nay, doanh nghiệp cần biết thấu hiểu khách hàng, có trách nhiệm với người lao động và cộng đồng, đồng thời chủ động kết nối thương hiệu của mình với thương hiệu ngành hàng, địa phương và quốc gia.
Trước bối cảnh yêu cầu chống phá rừng và truy xuất nguồn gốc của Liên minh châu Âu (EU) ngày càng khắt khe, các doanh nghiệp xuất khẩu không thể chỉ chú ý đến sản lượng và giá cả, mà đồng thời phải quan tâm sâu hơn đến nguồn gốc của nguyên liệu. Nếu một mắt xích không cung cấp được thông tin cần thiết thì việc truy xuất toàn bộ lô hàng sẽ gặp khó khăn.
Từ sản vật địa phương, nghề truyền thống đến tri thức cộng đồng, phụ nữ vùng cao đang từng bước biến những nguồn lực sẵn có thành sản phẩm và sinh kế. Khi được trao thêm kiến thức, kết nối thị trường và cơ hội đổi mới, những giá trị bản địa có thể trở thành động lực giúp phụ nữ dân tộc thiểu số làm kinh tế bền vững.
Thương mại Việt - Pháp tăng trưởng tích cực, trong khi dòng vốn đầu tư của Pháp tại Việt Nam còn nhiều dư địa. Theo TS Bùi Duy Tùng, giảng viên cấp cao ngành Kinh tế, Đại học RMIT Việt Nam, tiến trình phê chuẩn Hiệp định Bảo hộ đầu tư giữa Việt Nam và Liên minh châu Âu (EVIPA) có thể tạo xung lực mới cho dòng vốn đầu tư chất lượng cao từ Pháp vào Việt Nam.
Sau hơn 40 năm đổi mới, Việt Nam có gần 1,1 triệu doanh nghiệp đang hoạt động, đóng góp hơn 60% GDP, khoảng 55% thu ngân sách và tạo việc làm cho 17,6 triệu lao động.
Trong bối cảnh nền kinh tế nhiều biến động, kết nối cộng đồng, mở rộng thị trường và tháo gỡ điểm nghẽn về vốn, cơ chế đang trở thành những yếu tố quan trọng giúp doanh nghiệp trẻ nâng cao năng lực cạnh tranh, tạo động lực cho tăng trưởng bền vững.