VnBusiness

VnBusiness

VnBusiness

Doanh nghiệp

Nâng cấp nội lực để doanh nghiệp tránh ‘gãy đổ khi gặp bão tố’

Nâng cấp nội lực để doanh nghiệp tránh ‘gãy đổ khi gặp bão tố’

Nhìn vào “sức khỏe” doanh nghiệp Việt sẽ thấy vừa chực chờ nguy cơ đào thải vừa đối mặt nhiều áp lực về đầu ra, dòng tiền, thuế quan, yếu thế trong chuỗi giá trị…Điều này buộc họ phải nâng cấp nội lực để tránh “gãy đổ khi gặp bão tố”.

Ghi nhận ở Tp.HCM trong nửa đầu tháng 1/2026 cho thấy làn sóng trả mặt bằng, treo biển sang nhượng đang lan rộng, đặc biệt là nhóm kinh doanh ngành hàng thực phẩm và đồ uống (F&B), thời trang, bán lẻ. Nhiều mặt bằng cho thuê trên các tuyến đường trung tâm của thành phố này nhan nhản những tấm biển cho thuê. 

Năng lực nội tại còn những lỗ hổng

Điều đó phần nào phản ánh khó khăn thực tại mà các cơ sở kinh doanh, doanh nghiệp (DN) phải nếm trải. Như với ngành hàng F&B tại Tp.HCM, được dự báo trong năm 2026 sẽ tiếp tục bước vào giai đoạn thanh lọc, cạnh tranh khác biệt so với thời kỳ mở rộng ồ ạt như trước đây. 

Chuỗi sản xuất của các DN Việt cần được nâng cấp nội lực để giảm rủi ro trước các cú sốc bên ngoài.
Chuỗi sản xuất của các DN Việt cần được nâng cấp nội lực để giảm rủi ro trước các cú sốc bên ngoài.

Và vấn đề với các chủ cơ sở kinh doanh tại thành phố này không chỉ là áp lực chi phí mặt bằng mà còn là bế tắc về đầu ra khi mà hành vi tiêu dùng thay đổi chóng mặt, các mô hình kinh doanh truyền thống có vẻ như đã “đuối sức” trước sức ép cạnh tranh từ những mô hình mới mẻ hơn.

Nhìn một cách bao quát hơn, qua trao đổi với VnBusiness, chuyên gia kinh tế Huỳnh Thị Mỹ Nương, Tổng giám đốc, Tổng giám đốc Công ty TNHH Đào tạo Lãnh đạo và Dịch vụ Phát triển Bền vững (SLDT), nói rằng vẫn còn nhiều khó khăn, thách thức với các DN nội địa trong năm nay. Dễ thấy nhất là năng lực nội tại của từng bản thân DN (đặc biệt là các DN nhỏ và vừa) còn chưa cao, còn những lỗ hổng.

“Tự bản thân các DN nhỏ và vừa vẫn chưa có đủ nội lực để bứt phá lên được, thậm chí đối mặt với nguy cơ đào thải. Không chỉ vậy, mối liên kết giữa những DN trong nước với nhau còn lỏng lẻo, ngắn hạn (chỉ trong một thời đoạn nhất định khi thuận lợi), không thực sự mang lại tính hiệu quả bền vững”, bà Nương chia sẻ.

Khó khăn của các DN Việt có thể thấy rõ nếu nhìn lại tình hình rút lui khỏi thị trường trong năm 2025 vừa qua. Như dữ liệu của Cục Thống kê (Bộ Tài chính), số DN tạm ngừng kinh doanh có thời hạn trong năm 2025 là 114,4 nghìn DN, tăng 14,3% so với năm 2024. Có 76,9 nghìn DN ngừng hoạt động chờ làm thủ tục giải thể, tăng 0,9%. Đáng chú ý, có 35,9 nghìn DN hoàn tất thủ tục giải thể, tăng 66,1% so với năm trước đó. Tính ra bình quân một tháng có 18,9 nghìn DN rút lui khỏi thị trường.

Từ mối nguy bị đào thải, rút lui khỏi thị trường, theo chuyên gia kinh tế Huỳnh Thị Mỹ Nương, các DN Việt cần phải nhìn nhận lại mình, xem rõ những lỗ hổng đang nằm ở chỗ nào. Tự bản thân của họ phải biết nâng cấp nội lực để vượt khó vươn lên chứ không thể ỷ lại vào những chính sách hỗ trợ.

Trong khi đó, nhìn lại năm 2025, Bộ phận phân tích thuộc Công ty chứng khoán SHS chỉ rõ áp lực chi phí leo thang, sức mua phân hóa và những thay đổi về thuế cũng như khung pháp lý khiến không ít DN nhỏ buộc phải thu hẹp hoạt động hoặc rút lui hoàn toàn.

Trong khi đó, khu vực SME (DN vừa và nhỏ) của Việt Nam tạo ra khoảng 70% việc làm và gần một nửa GDP, nhưng lại chỉ chiếm dưới 20% dư nợ tín dụng, với khoảng 4 trên 5 DN không tiếp cận được vốn ngân hàng.

“Khi dòng tiền mỏng dần, khả năng chống chịu của họ suy giảm rất nhanh và chỉ cần một giai đoạn khó khăn kéo dài cũng đủ khiến nhiều đơn vị không thể trụ vững. Hệ quả là phần xương sống của nền kinh tế bị tổn thương, kéo theo mất việc làm và làm suy yếu sức mua tiêu dùng”, phía SHS đánh giá.

Do đó, trong năm 2026 này, các DN cần một định hướng cải cách đủ rõ ràng để khơi lại niềm tin phục hồi. Bên cạnh đó, mặc dù các DN không được ỷ lại vào chính sách hỗ trợ nhưng Nhà nước cũng cần phát đi những tín hiệu “tiếp sức” rõ ràng để gia tăng nội lực cho DN nội địa.

“Sức khỏe” cần được bồi đắp

Chẳng hạn, như khuyến nghị từ SHS, cần những chương trình hỗ trợ vi mô dành riêng cho SME. Chính phủ có thể cân nhắc mở rộng các gói hỗ trợ tài chính như Quỹ Phát triển SME hay các quỹ bảo lãnh tín dụng địa phương với thiết kế dễ tiếp cận hơn, để DN nhỏ có thêm một lớp đệm khi gặp biến cố.

Thực ra hiện nay, nguồn lực của những quỹ này còn khá hạn chế, chẳng hạn vốn cấp cho Quỹ Phát triển SME năm 2024 chỉ khoảng 837 tỷ đồng, mỏng manh trước những cơn gió lớn của chu kỳ kinh tế. Việc tăng cường nguồn lực và nâng cao hiệu quả vận hành của các quỹ hỗ trợ sẽ giúp những con thuyền nhỏ không bị cuốn đi khi sóng gió nổi lên.

Về dài hạn, giới chuyên gia khuyến nghị “sức khỏe” của khu vực SME cần được bồi đắp thông qua việc cải thiện khả năng tiếp cận vốn bằng các hình thức như cho vay tín chấp, cho thuê tài chính hay huy động qua thị trường chứng khoán, song song với đào tạo quản trị và thúc đẩy liên kết chuỗi giá trị. 

Ngoài ra, việc nâng cấp nội lực cho DN Việt trong hoạt động xuất khẩu cũng rất cần thiết trong lúc này. Nhất là khi họ đang chịu ép thuế quan từ thị trường chủ lực như Hoa Kỳ. Theo Bộ phận phân tích thuộc Công ty chứng khoán MBS, ở thời điểm hiện tại, các tiêu định để xác định hàng trung chuyển vẫn còn khá mơ hồ từ phía Mỹ, điều này cũng làm các DN nội địa Việt Nam thận trọng hơn trong việc xuất khẩu sang thị trường này.

Nhấn mạnh việc nâng cấp nội lực, Ts. Chu Thanh Tuấn, chuyên gia kinh tế, cho rằng việc đa dạng hóa thị trường và nâng vị thế DN Việt trong chuỗi giá trị là yêu cầu then chốt. 

“Chúng ta cần giảm phụ thuộc vào một số thị trường hoặc ngành hàng, khuyến khích DN trong nước tham gia sâu hơn vào các khâu tạo giá trị cao như thiết kế, marketing (tiếp thị), dịch vụ sau bán hàng sẽ giúp tăng khả năng giữ lại giá trị trong nước và giảm rủi ro trước các cú sốc bên ngoài”, Ts. Tuấn đưa ra lời khuyên.

Bên cạnh đó, đều dễ nhận thấy là sự yếu thế của DN nội trong liên kết với các DN có vốn đầu tư nước ngoài (FDI). Chính vì vậy, Ts. Đào Lê Trang Anh, chuyên gia kinh tế, mong rằng các chính sách yêu cầu ngưỡng nội địa hóa nhất định có thể đóng vai trò then chốt trong việc thúc đẩy và tăng cường mối liên kết giữa doanh nghiệp FDI và DN trong nước.

Nhất là cần thúc đẩy liên kết sâu hơn giữa DN trong nước và nước ngoài, thông qua các chính sách khuyến khích sử dụng nguyên vật liệu và nhà cung cấp trong nước. Việc này cũng đòi hỏi FDI cần được tận dụng như một “bà đỡ” cho quá trình nội địa hóa, thay vì tồn tại như một khối tách rời. 

Chung quy lại, chỉ khi bản thân tự nâng cấp nội lực cùng sự tiếp sức của khâu chính sách thì các DN Việt mới đủ vững vàng để tránh “gãy đổ khi gặp bão tố”.

Thế Vinh

}
VnBusiness